Tổng quan tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2025

Thứ sáu - 04/07/2025 04:09

I. BỐI CẢNH KINH TẾ THẾ GIỚI, TRONG NƯỚC VÀ TỈNH LẠNG SƠN

1. Tình hình thế giới

Theo các tổ chức quốc tế, nguyên nhân chính khiến triển vọng thương mại toàn cầu xấu đi là sự gia tăng các rào cản thương mại, đặc biệt là thuế quan, cùng với bất ổn chính sách lan rộng và gia tăng. Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) nhận định các biện pháp thuế quan mới của Hoa Kỳ và các biện pháp đối phó của các đối tác thương mại đã khiến thuế quan toàn cầu đạt mức cao nhất trong một thế kỷ. 

Căng thẳng thương mại gia tăng và bất ổn chính sách đang có tác động tiêu cực sâu sắc đến đầu tư, niềm tin kinh doanh và tiêu dùng. Liên hợp quốc nhận định xung đột thương mại toàn cầu sẽ tạo sức ép lớn lên đầu tư trên toàn thế giới, làm suy yếu nhu cầu toàn cầu, tăng chi phí kinh doanh và làm gia tăng bất ổn chính sách. Nhiều công ty đang áp dụng cách tiếp cận “chờ đợi và xem xét”, trì hoãn hoặc cắt giảm chi đầu tư. Do đó, căng thẳng địa chính trị và thuế quan tăng đang định hình lại các mô hình đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) toàn cầu.

2. Tình hình trong nước

Các tổ chức quốc tế dự báo tăng trưởng GDP của Việt Nam sẽ chậm lại trong năm 2025 và năm 2026. Nguyên nhân chủ yếu là do bất ổn chính sách toàn cầu gia tăng, rào cản thương mại leo thang và nhu cầu bên ngoài yếu hơn, đặc biệt từ các đối tác thương mại lớn như Hoa Kỳ và Trung Quốc.

3. Tình hình của tỉnh

Năm 2025 là năm tăng tốc, bứt phá, về đích, Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021 - 2025, có ý nghĩa then chốt, tạo nền tảng, tiền đề để bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình phát triển giàu mạnh, văn minh, thịnh vượng của dân tộc, tạo đà tăng trưởng hai con số trong giai đoạn 2026 - 2030. Tỉnh triển khai Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2025, trong bối cảnh thế giới, khu vực và trong nước đang đối diện với nhiều khó khăn, diễn biến phức tạp, khó lường, khó dự đoán, chính sách thuế quan giữa Hoa Kỳ và các nước, xung đột quân sự tại các quốc gia, vùng lãnh thổ,... 

Trong 6 tháng đầu năm 2025, với sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị, tỉnh Lạng Sơn đã thực hiện sắp xếp tinh gọn tổ chức, bộ máy các cơ quan, đơn vị theo chỉ đạo của Trung ương bảo đảm các cơ quan sau sắp xếp đi vào hoạt động ngay, không gián đoạn. Với quyết tâm thực hiện thắng lợi mục tiêu tăng trưởng năm 2025 tỉnh Lạng Sơn đạt 8,75% theo Nghị quyết số 25/NQ-CP của Chính phủ; Chỉ thị số 05/CT-TTg ngày 01/3/2025 của Thủ tướng Chính phủ; Nghị quyết số 154/NQ-CP ngày 31/5/2025 của Chính phủ; Lãnh đạo tỉnh, các sở, ban, ngành, địa phương tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện khẩn trương, quyết liệt, hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp đã được UBND tỉnh giao. Đồng thời, tập trung tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trên địa bàn tỉnh; tăng cường các giải pháp thu ngân sách nhà nước, đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công năm 2025; ưu tiên các ngành, lĩnh vực quan trọng, thúc đẩy đầu tư, tiêu dùng, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm,... nhằm kích thích tăng trưởng kinh tế. Kết quả đạt được của các ngành, lĩnh vực trong 6 tháng năm 2025 như sau:

II. KINH TẾ , XÃ HỘI 6 THÁNG ĐẦU NĂM 2025

1. Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP)

Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) ước tính 6 tháng đầu năm 2025 tăng 8,37% so với cùng kỳ. Trong mức tăng trưởng chung của toàn nền kinh tế 6 tháng đầu năm 2025, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 6,74%, đóng góp 1,43 điểm phần trăm vào mức tăng chung; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 11,89%, đóng góp 2,82 điểm phần trăm vào mức tăng chung; khu vực dịch vụ tăng 7,45%, đóng góp 3,75 điểm phần trăm vào mức tăng chung; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 7,78%, đóng góp 0,37 điểm phần trăm vào mức tăng chung. 

Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản:

Đối với cây hằng năm, người dân tập trung gieo trồng và chăm sóc rau màu vụ Đông Xuân. Tổng diện tích gieo trồng cây hằng năm vụ Đông Xuân năm 2025 sơ bộ thực hiện được 45.756,71 ha, tăng 0,74% tăng chủ yếu ở cây thạch đen, rau đậu các loại, khoai tây.... Đầu vụ Xuân, thời tiết giai đoạn đầu vụ khô hạn, ít mưa dẫn đến một số diện tích ruộng cạn, ruộng khe không chủ động được nguồn nước để gieo cấy nên diện tích cây lúa giảm 1,67%, cây ngô giảm 0,43% so với cùng kỳ. Bước sang tháng 5, thời tiết có mưa, đảm bảo cung cấp nước cho ruộng đồng. Bên cạnh cây lúa, cây ngô giảm ở mức thấp, các cây trồng hằng năm xác định là cây chủ lực, có giá trị kinh tế diện tích gieo trồng tăng so với cùng kỳ (Thuốc lá diện tích gieo trồng ước thực hiên được 2.801,6 ha, tăng 2,51%; thạch đen diện tích gieo trồng ước thực hiện được 1.681,0 ha, tăng 730,67 ha, tăng 76,89%). Cây lâu năm trên địa bàn tỉnh tiếp tục phát triển tập trung các cây ăn quả, cây dược liệu có giá trị kinh tế cao, trong 6 tháng đầu năm năng suất các cây ăn quả như vải, xoài, nhãn, hồi tỷ lệ đậu quả/hoa tăng cao so với cùng kỳ. Hoạt động chăn nuôi ổn định, dịch bệnh kiểm soát tốt vì vậy sản lượng thịt lợn, gà, vịt hơi xuất chuồng tăng cao nhờ nhu cầu tiêu dùng. Đồng thời, hoạt động của doanh nghiệp, HTX, trang trại chăn nuôi cũng phát triển tích cực, với nhiều đơn vị mới thành lập hoặc mở rộng quy mô so với cùng kỳ năm trước1.

Hoạt động sản xuất lâm nghiệp tiếp tục duy trì, sản lượng gỗ ước thực hiện được 887,3 nghìn m3, tăng so 3,61% với cùng kỳ, diện tích khai thác tập trung ở huyện Đình Lập, Bình Gia, Hữu Lũng, Tràng Định và các địa phương khác cũng triển khai khai thác tận thu gỗ, gỗ đến tuổi. Trên địa bàn tỉnh trong 2 năm gần đây, xu hướng phát triển cơ sở chế biến sản phẩm từ gỗ - gỗ băm sản xuất than sạch, than ống từ gỗ, sản phẩm xuất bán trong nước và xuất khẩu, nguồn nguyên liệu sản phẩm sử dụng gỗ ít năm tuổi hơn gỗ làm giấy, gỗ vật liệu xây dựng, nội thất. Hoạt động ươm giống tiếp tục phát triển. Hoạt động khai thác, nuôi trồng thủy sản tiếp tục được quan tâm và duy trì.

Khu vực công nghiệp và xây dựng:

Sản xuất công nghiệp 6 tháng đầu năm trên địa bàn cơ bản ổn định và có mức tăng trưởng khá, các sản phẩm công nghiệp chủ yếu đều có xu hướng tăng so với cùng kỳ 2. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp ước tính tăng trên 5,72% so với cùng kỳ, trong đó ngành ngành khai khoáng tăng 16,18%, đóng góp lớn vào mức tăng chung toàn ngành, do nhu cầu tiêu thụ than tăng cao từ Công ty Nhiệt điện Na Dương và nhu cầu vật liệu xây dựng phục vụ các công trình hạ tầng trên địa bàn; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 5,25%; ngành sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại tăng 33,34%; in ấn tăng 6,30% nhờ đơn hàng ổn định, đặc biệt từ khu vực hành chính, giáo dục... 

Hoạt động xây dựng trong 6 tháng đầu năm 2025, nhiều dự án đã và đang được triển khai, xây dựng. Để đẩy nhanh tiến độ thực hiện, giải ngân vốn đầu tư công và vốn thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia năm 2025, UBND tỉnh Lạng Sơn đã ban hành Chỉ thị 05/CT-UBND ngày 12/3/2025 về việc đẩy nhanh tiến độ thực hiện, giải ngân vốn đầu tư công và vốn thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia năm 2025; Quyết định số 475/QĐ-UBND ngày 26/02/2025 về việc thành lập các Tổ công tác kiểm tra, chỉ đạo giải quyết, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, xử lý đối với các dự án trên địa bàn tỉnh; Quyết định 524/QĐ-UBND ngày 28/02/2025 về việc thành lập Ban Chỉ đạo, cơ chế điều hành và danh mục các dự án trọng điểm năm 2025. Do giải quyết kịp thời các khó khăn, vướng mắc, thủ tục pháp lý, giải phóng mặt bằng, nguồn cung nguyên vật liệu để đẩy nhanh các dự án; môi trường đầu tư, kinh doanh tiếp tục được cải thiện; đa dạng hóa các hình thức huy động và sử dụng nguồn lực, trong đó ưu tiên các nhà đầu tư có tiềm lực tài chính đầu tư các dự án quy mô lớn, sử dụng công nghệ tiên tiến, thân thiện với môi trường, hiệu quả đầu tư cao.

Khu vực dịch vụ: Hoạt động xuất nhập khẩu (XNK) của các cửa khẩu trên địa bàn tỉnh tiếp tục diễn ra ổn định tại 05 cửa khẩu (Cửa khẩu quốc tế Hữu Nghị, cửa khẩu Ga đường sắt quốc tế Đồng Đăng, cửa khẩu Chi Ma, cửa khẩu Na Hình, cửa khẩu Nà Nưa), hiệu suất thông quan cao tại các cửa khẩu đường bộ đạt trên 1.650 xe XNK/ngày (ngày cao điểm nhất ghi nhận 1.930 xe thông quan XNK/ngày). Hoạt động thương mại diễn ra sôi động, giá cả các mặt hàng cơ bản ổn định, hàng hóa phong phú, đa dạng, bảo đảm phục vụ nhu cầu của người dân, không có hiện tượng thiếu hàng cũng như tăng giá đột biến. Hoạt động vận tải hành khách, hàng hóa ổn định, thông suốt, an toàn. Dịch vụ bưu chính, viễn thông tiếp tục được cải thiện, nâng cao về chất lượng. Các hoạt động quảng bá, xúc tiến du lịch được đẩy mạnh, các chương trình, hoạt động du lịch, lễ hội được tổ chức với quy mô lớn, số lượng người tham gia các lễ hội truyền thống của tỉnh tăng.

Quy mô GRDP theo giá hiện hành ước tính đạt  27.116 tỷ đồng. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng định hướng: Nông lâm nghiệp và thủy sản chiếm 20,10%, công nghiệp và xây dựng 27,80%, dịch vụ 47,74%, thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm 4,36%. 

2. Tài chính, ngân hàng

2.1. Tài chính3

Các Sở, ban, ngành, Ủy ban nhân dân huyện, thành phố thực hiện tốt công tác quản lý thu, chi ngân sách nhà nước năm 2025. Các cơ quan liên quan tổ chức thực hiện thu đầy đủ, thu kịp thời các khoản phải thu theo kết quả Kiểm toán, Thanh tra; ban hành các văn bản đôn đốc, chỉ đạo phân bổ, cam kết giải ngân kế hoạch đầu tư công và vốn sự nghiệp thực hiện các chương trình, đề án, kế hoạch và nhiệm vụ chi khác năm 2025.

- Về thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn

Ước thực hiện thu NSNN trên địa bàn 6 tháng đầu là 7.353 tỷ đồng, đạt 74,0% dự toán toán tỉnh giao, tăng 50,12% so với cùng kỳ, trong đó:

 Thu nội địa: Thực hiện được 1.763,0 tỷ đồng, đạt 50,5% dự toán tỉnh giao, tăng 19,2% so với cùng kỳ. Thu nội địa không bao gồm thu tiền sử dụng đất, thu xổ số kiến thiết, thu phí  sử dụng  công trình kết cấu  hạ tầng, công trình dịch vụ, tiện ích công cộng trong khu vực cửa khẩu là 1.164,8 tỷ đồng, đạt 71,2% so với dự toán tỉnh giao, tăng 16,6% so với cùng kỳ.

Thu từ hoạt động xuất nhập khẩu: Thực hiện được 5.586,6 tỷ đồng, đạt 86,6% dự toán, tăng 63,54% so với cùng kỳ.

Các khoản huy động, đóng góp: 3,1 tỷ đồng.

- Về chi ngân sách địa phương: Tổng chi ngân sách địa phương ước thực hiện 6 tháng đầu năm là  8.898  tỷ đồng, tăng 43,87% so với cùng kỳ, trong đó: chi đầu tư phát triển là  2.215,5 tỷ đồng, tăng 43,8% so cùng kỳ. Chi thường xuyên là  6.659,5 tỷ đồng, tăng 44,3% so cùng kỳ.

2.2. Ngân hàng4

Tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh chấp hành nghiêm túc các quy định của Nhà nước và pháp luật về hoạt động ngân hàng; tiếp tục tập trung thực hiện kế hoạch và nhiệm vụ kinh doanh; huy động vốn và dư nợ tín dụng tăng trưởng tốt;  tập trung vốn cho lĩnh vực sản xuất kinh doanh; các dịch vụ ngân hàng số ngày càng phổ biến, hình thành thói quen thanh toán không dùng tiền mặt đối với người dân trên địa bàn tỉnh; đưa  ra nhiều gói tín dụng với lãi suất ưu đãi nhằm kích cầu tín dụng, nhất là cho vay tiêu dùng, cho vay nhà ở xã hội đối với người nghèo, người thu nhập thấp để góp phần thúc đẩy tín dụng tiêu dùng. Kết quả huy động vốn và cho vay ước thực hiện đến 30/6/2025: Tổng huy động vốn ước đạt 52.800 tỷ đồng, tăng 11,7% so với cùng kỳ. Dư nợ tín dụng của các ngân hàng trên địa bàn ước đạt 48.200 tỷ đồng, tăng 13,4% so với cùng kỳ.

3. Chỉ số giá 

Bình quân 6 tháng năm 2025, CPI tăng 1,93% so với cùng kỳ, trong đó: 09 nhóm hàng CPI tăng: Nhóm Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 4,97% (lương thực tăng 5,99%, thực phẩm tăng 6,10%, ăn uống ngoài gia đình tăng 0,34%), so với cùng kỳ nhiều mặt hàng lương thực, thực phẩm tăng như thịt gia súc, thuỷ sản chế biến, rau tươi khô và chế biến,... nguyên nhân chủ yếu là do nhu cầu tiêu thụ thực phẩm tăng cao. Nhóm đồ uống, thuốc lá tăng 1,95%. Nhóm may mặc, mũ nón giầy dép tăng 0,30%. Nhóm Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,28%. Nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 2,85%. Nhóm  Thuốc và dụng cụ y tế tăng 6,36%, nhóm này có chỉ số giá tăng do giá dịch vụ y tế tăng theo Nghị quyết 28/2024/NQ-HĐND ngày 31/12/2024 của HĐND tỉnh Lạng Sơn, áp dụng từ ngày 01/01/2025. Nhóm bưu chính viễn thông tăng 0,01%. Nhóm văn hoá, giải trí và du lịch tăng 1,04%. Nhóm hàng hoá và dịch vụ khác tăng 3,95%.

Chỉ số giá vàng: Bình quân 6 tháng tăng 40,81% so với cùng kỳ.  

Chỉ số giá đô la Mỹ: Bình quân 6 tháng tăng 3,28% so với bình quân cùng kỳ.

4. Đầu tư, xây dựng

Tổng vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn tỉnh 6 tháng đầu năm 2025 ước đạt đạt 11.267 tỷ đồng, tăng 17,97% so với cùng kỳ, trong đó: Vốn ngân sách Nhà nước ước đạt 2.716,8 tỷ đồng, tăng 15,81% so với cùng kỳ. Vốn đầu tư thực hiện của khu vực ngoài nhà nước ước đạt 8.549 tỷ đồng, chiếm 75,88% tổng vốn, tăng 18,68% so với cùng kỳ (Vốn đầu tư của các doanh nghiệp tư nhân và tổ chức ngoài nhà nước ước đạt 5.276 tỷ đồng tăng 31,08% so với cùng kỳ; vốn đầu tư khu vực hộ dân cư ước đạt 3.273,1 tỷ đồng tăng 2,97% so với cùng kỳ). Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 6 tháng đầu năm 2025 ước đạt đạt 1tỷ đồng.

Trong thời gian tới tỉnh tiếp tục hướng dẫn các nhà đầu tư về quy trình, thủ tục đầu tư, đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án đã được chấp thuận chủ trương đầu tư, giấy chứng nhận đăng ký đầu tư. Đẩy mạnh thu hút tối đa nguồn lực đầu tư, đa dạng hóa các hình thức huy động và sử dụng nguồn lực, nhất là các nguồn lực đầu tư ngoài nhà nước; ưu tiên thu hút các nhà đầu tư có năng lực, kinh nghiệm đầu tư phát triển các tiềm năng, lợi thế theo hướng bền vững, thân thiện môi trường, sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả.

5. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

Trong tháng 6, người dân tập trung chủ yếu vào khâu chăm sóc như phát quang bờ và thu hoạch lúa Xuân sớm và các cây rau màu, kết hợp làm đất chuẩn bị cho sản xuất vụ Mùa. Công trình thủy lợi cơ bản đảm bảo phục vụ tưới cho sản xuất nông nghiệp. Các đơn vị cung ứng giống trên địa bàn tỉnh đảm bảo đủ lượng giống cung ứng cho người dân sản xuất. Hoạt động chăn nuôi có xu hướng giảm về số lượng đàn trâu, bò, tăng số lượng đàn lợn và gia cầm; đàn ngựa, dê và chăn nuôi khác phát triển tương đối ổn định. Công tác bảo vệ và phát triển rừng thực hiện có hiệu quả. Hoạt động khai thác thuỷ sản được duy trì, phong trào nuôi cá ao, hồ, nuôi cá lồng trên địa bàn tỉnh tiếp tục phát triển ổn định.

5.1. Nông nghiệp

5.1.1. Cây hằng năm

Tổng diện tích gieo trồng cây hằng năm vụ Đông Xuân năm 2025 sơ bộ thực hiện được 45.756,71 ha, tăng 0,74% so với cùng kỳ. Trong đó tăng chủ yếu ở diện tích cây khoai tây, thuốc lá, thạch đen do đem lại hiệu quả kinh tế cao. Một số cây trồng có diện tích giảm mạnh như khoai lang giảm 13,25%, đậu tương giảm 22,55%, đậu các loại giảm 7,69% do đầu vụ thời tiết khô hạn không thể gieo trồng nên người dân chuyển sang gieo trồng các loại cây khác chịu hạn tốt hơn. Tổng sản lượng lương thực có hạt ước thực hiện được 149.902,3 tấn, giảm 2,74% (- 4228,1 tấn) so với cùng kỳ.

Cây lúa diện tích gieo trồng sơ bộ thực hiện 15.203 ha, giảm 1,67% so với cùng kỳ, do thời tiết giai đoạn đầu vụ khô hạn, ít mưa dẫn đến một số diện tích ruộng cạn, ruộng khe không chủ động được nguồn nước để gieo cấy. Tuy nhiên, trong giai đoạn cây lúa hồi xanh - đẻ nhánh, công tác làm cỏ lúa, bón thúc đã được bà con tập trung chăm sóc tốt nên cây trồng sinh trưởng phát triển tốt. Mặc dù có phát sinh một số loại sâu bệnh gây hại như: rầy nâu, ốc bươu vàng, châu chấu…, nhưng mức độ gây hại ít không ảnh hưởng đến sự phát triển và sinh trưởng chung của cây lúa. Năng suất lúa ước đạt 50,93 tạ/ha, giảm 1,60%, sản lượng lúa ước đạt 77.428,67 tấn, giảm 3,25% so với cùng kỳ.

Cây ngô diện tích gieo trồng sơ bộ thực hiện 13.736,48 ha, giảm 0,43% so với cùng kỳ. Trong những tháng đầu năm thời tiết khô hạn nên ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển của cây, dự ước năng suất đạt 52,76 tạ/ha, giảm 1,77%, sản lượng ngô đạt 72.473,67 tấn, giảm 2,18%  so với cùng kỳ.

Cây thuốc lá diện tích gieo trồng sơ bộ  thực hiện 2.801,55 ha, tăng 2,51% so với cùng kỳ. Thuốc lá được trồng chủ yếu ở huyện Bắc Sơn, Chi Lăng và là một trong những cây trồng có hiệu quả kinh tế cao, năm trước giá bán thuốc lá ổn định ở mức 58.000 đồng - 68.000 đồng/kg nên người dân mở rộng sản xuất đem lại nguồn thu nhập ổn định. Năng suất ước đạt 24,05 tạ/ha, tăng 3,17%; sản lượng đạt 6.737,73 tấn, tăng 5,78% so với cùng kỳ.

5.1.2. Cây lâu năm 

Cây lâu năm đóng vai trò quan trọng trong cơ cấu ngành nông nghiệp, góp phần nâng cao thu nhập của người dân và phát triển kinh tế nông thôn bền vững. Trong những tháng đầu năm 2025, hạn hán kéo dài, gây ra tình trạng thiếu nước, tuy nhiên, khắc phục mọi khó khăn, tình hình sản xuất cây lâu năm tiếp tục được đầu tư, mở rộng diện tích. Thực hiện đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học vào sản xuất gắn với đổi mới hình thức sản xuất, có sự tham gia của doanh nghiệp. Hình thành các chuỗi giá trị từ sản xuất đến thị trường tiêu thụ sản phẩm, ưu tiên nguồn lực, chính sách hỗ trợ, đầu tư phát triển các cây ăn quả chủ lực có thương hiệu như na, quýt, hồng; chú trọng trồng và chăm sóc cây ăn quả theo tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP. Ước tính tổng diện tích cây lâu năm 6 tháng đầu năm hiện có là 53.680,57 ha, tăng 0,66% so với cùng kỳ. 

5.1.3. Chăn nuôi

Ước tổng đàn trâu hiện có 48,1 nghìn con, giảm 14,21% so với cùng kỳ; số con trâu xuất chuồng đạt 6.490,00 con, giảm 14,61% so với cùng kỳ; sản lượng xuất chuồng ước đạt 1.882,0 tấn, giảm 9,29% so với cùng kỳ, sản phẩm trâu xuất chuồng giảm do tổng đàn trâu giảm dần qua các năm.

Ước tổng đàn bò hiện có 27,3 nghìn con, giảm 5,14% so với cùng kỳ năm trước. Số bò xuất chuồng 6 tháng đầu năm ước 2.650 con, tương đương với sản lượng thịt hơi xuất chuồng 583,1 tấn, tăng 3,53%  so với cùng kỳ.

Ước tổng đàn lợn số con hiện có 159,4 nghìn con, tăng 2,59% so với cùng kỳ. Sản lượng hơi xuất chuồng đạt 14.683,3 tấn, tăng 8,00% so với cùng kỳ. Tình hình dịch bệnh Dịch tả lợn Châu Phi trên địa bàn tỉnh trong tháng diễn biến phức tạp và lan rộng, xảy ra tại 428 hộ, thuộc 136 thôn/55 xã/10 huyện, thành phố; tổng số lợn ốm, chết và tiêu hủy là 1.293 con, với tổng trọng lượng 66.814 kg. Lũy kế đến nay, dịch bệnh đã xảy ra tại 443 hộ/146 thôn/61 xã thuộc 10 huyện, tổng số lợn chết và tiêu hủy là 1.404 con, trọng lượng 70.336 kg. Hiện có 03/61 xã đã qua 21 ngày không phát sinh dịch.

Ước tính tổng đàn gia cầm ước 5.306 nghìn con, tăng 7,12% so với cùng kỳ (trong đó, tổng đàn gà là 4.760,52 nghìn con). Do nhu cầu tiêu thụ thịt gia cầm cho hoạt động sinh hoạt, thương mại tăng. Sản lượng trứng gia cầm đạt  37,4 triệu quả (trong đó, số lượng trứng gà đạt 34,2 triệu quả).

5.2. Lâm nghiệp

Diện tích rừng trồng mới tập trung trong tháng ước đạt 1,46 nghìn ha, tăng 0,43% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 6 tháng đầu năm, trên địa bàn tỉnh trồng rừng tập trung đạt 7,96 nghìn ha, tăng 6,80% so với cùng kỳ. Diện tích trồng rừng sản xuất ngày càng mở rộng do trồng rừng mang lại hiệu quả kinh tế, cây lâm nghiệp được trồng chủ yếu là keo, mỡ, bạch đàn; các cơ sở chế biến gỗ ép ngày càng tăng công suất, đáp ứng được đầu ra cho người dân tại địa phương.

Khai thác gỗ tròn các loại trong tháng ước 34,43 nghìn m3, tăng 4,98% so cùng kỳ. Lũy kế 6 tháng đầu năm, sản lượng gỗ ước đạt 228 nghìn m3, tăng 3,61% so với cùng kỳ.

5.3. Thủy sản

Diện tích nuôi trồng thủy sản tương đối ổn định, đối tượng nuôi trồng thủy sản phong phú, môi trường nuôi không bị ô nhiễm và không có dịch bệnh xảy ra. Trong tháng 6 tháng đầu năm tổng sản lượng nuôi trồng, khai tác thủy sản ước đạt 1.098 tấn, tăng 2,04% so với cùng kỳ (Trong đó sản lượng nuôi trồng thủy sản ước đạt 947 tấn, tăng 2,19% so với cùng kỳ), sản lượng thủy sản tăng là do nhu cầu tiêu dùng, chủ yếu là cá và số lượng ít tôm, ốc được đánh bắt ở sông, suối. Hoạt động cung ứng cá giống từ đầu năm đã thực hiện cung ứng được 765.950 con cá giống các loại.

6. Sản xuất công nghiệp

Chỉ số sản xuất công nghiệp 6 tháng ước tính tăng tăng 5,72% so với cùng kỳ, phản ánh xu hướng phục hồi tương đối tích cực trong bối cảnh nhiều yếu tố đầu vào, thị trường và sản xuất dần ổn định trở lại. Cùng với nhiều cơ sở sản xuất, doanh nghiệp nhận thêm đơn hàng, nhu cầu tiêu thụ tăng và một số dự án đầu tư, xây dựng được triển khai, góp phần thúc đẩy sản lượng sản xuất. Trong đó: Ngành khai khoáng tăng 16,18%, đóng góp đáng kể vào mức tăng chung nhờ nhu cầu tiêu thụ than tăng cao từ Công ty Nhiệt điện Na Dương và nhu cầu vật liệu xây dựng phục vụ các công trình hạ tầng trên địa bàn. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 5,25%, do một số ngành có mức tăng mạnh, như: sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại tăng 33,34%, sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 9,01%... Ngành sản xuất và phân phối điện tăng 3,04%, do nhu cầu tiêu dùng điện tăng trong mùa nắng nóng. Ngành cung cấp nước, xử lý rác thải, nước thải tăng 2,12%, do duy trì ổn định phục vụ nhu cầu dân sinh. 

7. Thương mại và dịch vụ

Hoạt động xuất nhập khẩu (XNK) của các cửa khẩu trên địa bàn tỉnh tiếp tuc diễn ra ổn định tại 05 cửa khẩu (Cửa khẩu quốc tế Hữu Nghị, cửa khẩu Ga đường sắt quốc tế Đồng Đăng, cửa khẩu Chi Ma, cửa khẩu Na Hình, cửa khẩu Nà Nưa), hiệu suất thông quan cao tại các cửa khẩu đường bộ đạt trên 1.650 xe XNK/ngày (ngày cao điểm nhất ghi nhận 1.930 xe thông quan XNK/ngày). Trong đó: xuất khẩu trung bình khoảng 450-500 xe/ngày (khoảng 80% là hoa quả), nhập khẩu trung bình khoảng 1.100-1.150 xe/ngày. Kim ngạch hàng hóa xuất nhập khẩu qua địa bàn tỉnh đến hết ngày 14/5/2025 ước đạt 28.442 triệu USD, trong đó: Kim ngạch hàng hóa mở tờ khai đạt 1.793 triệu USD; kim ngạch xuất khẩu ước đạt 382 triệu USD; kim ngạch nhập khẩu ước đạt 1.411 triệu USD.

Trong 6 tháng đầu năm 2025, tỉnh đã tập trung triển khai các hoạt động xúc tiến, thu hút đầu tư, thương mại, chương trình kích cầu du lịch; cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh; thành lập Tổ công tác triển khai cao điểm đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ. Hoạt động thương mại và dịch vụ trên địa bàn tỉnh cơ bản ổn định, cùng với hệ thống các cơ sở dịch vụ mua sắm, ăn uống, vui chơi giải trí đạt tiêu chuẩn đã thu hút khách du lịch và người dân đến thăm quan, mua sắm. Đồng thời, các doanh nghiệp, trung tâm thương mại, hệ thống siêu thị tổ chức nhiều chương trình giảm giá, khuyến mãi nhằm kích thích tiêu dùng của người dân trong dịp lễ, góp phần thúc đẩy tăng trưởng tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu trên địa bàn tỉnh. Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ trên địa bàn tỉnh 6 tháng năm 2025 đạt 21.450,7 tỷ đồng, tăng 16,07% (chưa bao gồm doanh thu dịch vụ thông tin truyền thông và chuyên môn khoa học)

Dự ước tổng doanh thu vận tải, kho bãi 6 tháng đầu năm 2025 đạt 1.410,3 tỷ đồng, tăng 12,41% so với cùng kỳ. Trong đó: Doanh thu vận tải hành khách ước đạt 181,8 tỷ đồng, tăng 11,71%; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 654,5 tỷ đồng, tăng 10,21%; doanh thu hoạt động kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 571,8 tỷ đồng, tăng 15,2%; doanh thu hoạt động bưu chính, chuyển phát ước đạt 2,1 tỷ đồng, tăng 29,34% so với cùng kỳ. 

8. Một số lĩnh vực xã hội

Công tác bảo đảm an sinh xã hội đã đạt được nhiều kết quả quan trọng. Hệ thống an sinh xã hội ngày càng đồng bộ và hoàn thiện với diện bao phủ không ngừng được mở rộng. Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân không ngừng được cải thiện. An sinh xã hội đã trở thành chỗ dựa vững chắc cho người nghèo và đối tượng dễ bị tổn thương trong xã hội.

Công tác tư vấn, giới thiệu việc làm: Duy trì tư vấn học nghề cho người lao động, người lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp, tư vấn về kỹ năng tham gia dự tuyển về tự tạo việc làm, tìm việc làm trong và ngoài nước. Tổng số người được tư vấn về chính sách pháp luật lao động, việc làm, định hướng nghề và giới thiệu việc làm là 3.698 lượt người giảm 37,11% so với cùng kỳ, luỹ kế năm 2025 là 20.078 lượt người; Tổng số người lao động đăng ký tìm việc làm 96 lượt người giảm 81,67% so với cùng kỳ, luỹ kế năm 2025 là 438 lượt người. Lao động được giới thiệu việc làm là 93 lượt người giảm 81,87% so với cùng kỳ, luỹ kế năm 2025 là 411 lượt người.

Y tế: Các đơn vị tiếp tục thực hiện nghiêm túc quy chế chuyên môn; đảm bảo thuốc, vật tư y tế, hóa chất, sinh phẩm phục vụ công tác khám chữa bệnh và phòng chống dịch bệnh. Duy trì thực hiện Đề án 1816, khám chữa bệnh từ xa, đảm bảo y tế cho các sự kiện lớn của tỉnh.

Văn hóa, thể thao: Tiếp tục thực hiện các Đề án "Bảo tồn, phát huy giá trị dân ca, dân vũ, dân nhạc của các dân tộc thiểu số gắn với phát triển du lịch" trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2022 - 2030; Đề án Bảo tồn và phát huy giá trị di sản Múa sư tử dân tộc Tày, Nùng trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2021 -2030; Đề án bảo tồn, tôn tạo, phát huy giá trị hệ thống di tích lịch sử - văn hoá.

Giáo dục: Chất lượng giáo dục, đào tạo tiếp tục nâng cao và cải thiện toàn diện. Tổ chức kì thi tuyển sinh lớp 10 trung học phổ thông năm học 2025 bảo đảm an toàn, đúng quy định; tổ chức thi tốt nghiệp THPT năm 2025. Kiểm tra công tác coi thi, chấm thi kỳ thi tuyển sinh lớp 10 THPT năm học 2025-2026 và coi thi tốt nghiệp THPT năm 2025; tổ chức kiểm tra để công nhận các trường đạt chuẩn quốc gia theo kế hoạch.

III. ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP

Để tạo sự đột phá trong 6 tháng cuối năm 2025 và những năm tiếp theo, trong 6 tháng cuối năm các cấp, các ngành cần nâng cao tinh thần trách nhiệm, bám sát tình hình, chỉ đạo của cấp trên, chủ động, sáng tạo, hành động quyết liệt, triển khai đồng bộ các nhóm nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu sau:

Thứ nhất: Tiếp tục triển khai thực hiện đầy đủ các Chỉ thị, Nghị quyết, văn bản chỉ đạo của cấp trên; thực hiện đồng bộ, hiệu quả các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp chỉ đạo, điều hành về thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế  -  xã hội và dự toán ngân sách Nhà nước năm 2025 của tỉnh. Vận hành ổn định đơn vị  hành chính cấp xã mới thành lập và thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp theo chỉ đạo của Trung ương.

Thứ hai: Tập trung thực hiện hiệu quả, cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, tăng cường năng lực nội sinh, nâng cao năng lực cạnh tranh, phát triển nhanh, bền vững; đẩy mạnh phát triển kinh tế số, kinh tế xanh, thương mại điện tử, các ngành, lĩnh vực mới nổi, các mô hình kinh doanh mới, hiệu quả; làm mới các động lực tăng trưởng cũ và khai thác hiệu quả các động lực tăng trưởng mới.

Thứ ba: Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng, chống thiên tai, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường; giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường.

Thứ tư: Tiếp tục chỉ đạo thực hiện tốt kế hoạch sản xuất vụ mùa; tập trung chỉ đạo triển khai thực hiện phát triển kinh tế nông, lâm nghiệp, chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật  nuôi theo hướng tái cơ cấu lại ngành nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới, quan tâm phát triển nông nghiệp sản xuất hóa, áp dụng khoa học, công nghệ vào sản xuất nhằm gia tăng giá trị trên một diện tích sản xuất. Tiếp tục triển khai hiệu quả Chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP); xây dựng chuỗi liên kết sản xuất, tiêu thụ sản phẩm, xây dựng thương hiệu trong lĩnh vực nông nghiệp; chuyển đổi cây trồng, vật nuôi; công tác quản lý, kiểm soát giết mổ  bảo đảm an toàn dịch bệnh, an toàn thực phẩm.

Thứ năm: Tập trung triển khai đẩy nhanh tiến độ hệ thống kết cấu hạ tầng, nhất là đẩy mạnh thực hiện hạ tầng đô thị, hạ tầng liên vùng, hạ tầng xã hội, y tế, giáo dục, các dự án đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông như: Dự án án tuyến cao tốc cửa khẩu Hữu Nghị - Chi Lăng; Dự  án nâng cấp đoạn Km18-Km80… Phát triển công nghiệp theo hướng nâng cao chất lượng, sức cạnh tranh, công nghiệp xanh, an toàn và hiện đại, liên kết đồng bộ, tham gia các chuỗi giá trị trong điều kiện hội nhập sâu rộng của nền kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp chế biến và công nghiệp ứng dụng công nghệ cao, triển khai kế  hoạch thực hiện chương trình hành động quốc gia về sản xuất và tiêu dùng bền vững trên địa bàn tỉnh. Tạo mọi điều kiện thuận lợi để thu hút các tập đoàn lớn, các nhà đầu tư quan tâm đầu tư kết cấu hạ tầng các cụm công nghiệp để thu hút đầu tư sản xuất công nghiệp, trong đó trú trọng đầu tư thu hút FDI trên địa bàn tỉnh.

Thứ sáu: Chỉ đạo quyết liệt công tác quản lý ngân sách nhà nước. Tăng  cường phối hợp giữa cơ quan thu và các lực lượng chức năng trong công tác quản lý; rà soát, kết  nối,  khai  thác,  đối  chiếu  chéo  thông  tin  quản  lý  thuế,  chống  thất  thu, chuyển giá, thu hồi nợ thuế, quản lý hiệu quả các nguồn thu phát sinh từ kinh doanh trên nền tảng số, kinh doanh trên mạng; trung xử lý các  vướng mắc để kịp thời triển khai đấu giá các dự án tạo nguồn thu cho ngân sách tỉnh, hoàn thành chỉ tiêu thu ngân sách; thực hiện nghiêm, triệt để, có hiệu quả công tác đấu tranh chống buôn lậu, hàng giả và gian lận thương mại; chống thất thu, gian lận thuế, giảm nợ đọng thuế.


[1] Dự án chăn nuôi lợn: Công ty TNHH một thành viên SHG, Công ty cổ phần chăn nuôi Rutech; Dự án đang đầu tư, chuẩn bị đi vào hoạt động: Trang trại chăn nuôi lợn nái sinh sản tại Khu chăn nuôi Bó Tá, dự án Trang trại chăn nuôi lợn thương phẩm tại Khu chăn nuôi Bó Tát...; Chăn nuôi gia cầm: Hợp tác xã sản xuất dịch vụ nông nghiệp Bích Phượng, hợp tác xã nông nghiệp sạch Phát Huy, Hợp tác xã nông nghiệp Bắc Lãng, Hợp tác xã nông nghiệp Thành Đạt, Hợp tác xã sản xuất dịch vụ nông nghiệp...

[2] Ngành khai khoáng tăng 17,3% nhờ khai thác sản lượng than đá tại Công ty Than Na Dương, đáp ứng nhu cầu của nhà máy nhiệt điện; Sản lượng đá xây dựng cũng tăng 20,3% do tăng cung cấp nguyên liệu cho các công trình dân dụng và cao tốc. Chế biến gỗ và SX SP từ gỗ, tre, nứa; SX SP từ rơm, rạ tăng 18% do nhu cầu nguyên liệu sản phẩm từ gỗ trên địa bàn, và xuất cho các địa phương.

[3] Nguồn: Sở Tài chính.

[4] Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Khu vực 5.

Tác giả bài viết: Chi cục Thống kê tỉnh Lạng Sơn

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây