Năm 2025 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là năm tăng tốc, bứt phá và hoàn thành các mục tiêu, chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII và Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm giai đoạn 2021–2025. Đây cũng là năm diễn ra nhiều sự kiện quan trọng của đất nước và của tỉnh, đặc biệt là năm tiến hành Đại hội Đảng các cấp, tiến tới Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV với kỷ nguyên vươn mình của dân tộc và cuộc cách mạng về sắp xếp tổ chức bộ máy, thực hiện chính quyền địa phương 2 cấp.
Thế giới, khu vực có nhiều diễn biến mới, phức tạp, khó lường; cạnh tranh chiến lược, căng thẳng thương mại ngày càng gia tăng, đặc biệt là chính sách thuế quan của Hoa Kỳ. Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo ngày càng trở thành xu thế phát triển, động lực quan trọng, tác động sâu rộng đến mọi mặt kinh tế - xã hội. Ở trong nước, Trung ương triển khai nhiều nghị quyết, quyết sách lớn, nhiệm vụ mới mang tính lịch sử. Tỉnh Lạng Sơn với sự lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát, kịp thời của Tỉnh ủy, sự giám sát chặt chẽ của HĐND tỉnh và sự điều hành chủ động, linh hoạt của UBND tỉnh, các cấp, các ngành với khối lượng công việc rất lớn, yêu cầu thời gian rất gấp, với sự nỗ lực, quyết tâm cả hệ thống chính trị đã thực hiện đạt và vượt các mục tiêu, nhiệm vụ đề ra.
I. PHÁT TRIỂN KINH TẾ
1. Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP)
1.1. Tăng trưởng kinh tế
Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) theo giá so sánh năm 2025 ước đạt 27.547 tỷ đồng, tốc độ tăng tổng sản phẩm trên địa bàn là 8,06%1 , trong đó: Nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 5,07%, đóng góp 1,07 điểm phần trăm vào mức tăng chung; công nghiệp - xây dựng tăng 12,75%, đóng góp 3,19 điểm phần trăm vào mức tăng chung; dịch vụ tăng 7,11%, đóng góp 3,51 điểm phần trăm vào mức tăng chung; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 6,46% đóng góp 0,30 điểm phần trăm vào mức tăng chung.

* Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản
Cây hằng năm tiếp tục phát triển theo định hướng đảm bảo lương thực có hạt phục vụ nhu cầu sinh hoạt của người dân trên địa bàn, đồng thời chuyển đổi cơ cấu cây trồng sang các loại cây trồng khác mang lại hiệu quả kinh tế. Sản xuất vụ Đông -Xuân, thời tiết khô hạn kéo dài dẫn đến tình trạng thiếu nước sản xuất; tuy nhiên, các ngành chức năng của địa phương đã chủ động nắm bắt tình hình thời tiết, dự báo khí tượng, thủy văn, thực hiện phân phối nước hợp lý để đảm bảo cung cấp nước tưới từ đầu vụ sản xuất.
Cây lâu năm duy trì ổn định và tiếp tục phát triển theo hướng sản xuất bền vững với diện tích ước đạt 55.043,53 ha, tăng 2,85% so với cùng kỳ. Một số cây trồng đang được địa phương đầu tư phát triển, có giá trị kinh tế cao như: Cây na là ứng dụng các biện pháp kỹ thuật canh tác, kéo dài thời gian thu hoạch quả sớm hoặc muộn hơn so với chính vụ, nâng cao giá trị sản phẩm, tăng hiệu quả sản xuất. Các sản phẩm quả hồng tươi, hồng treo gió, hồng ngâm… đã trở thành thương hiệu để người trồng hồng vành khuyên có thêm thu nhập, từng bước thoát nghèo, tạo nhiều việc làm cho người dân trên địa bàn; cây hồi ước đạt 36.224,5ha, tăng 3,21% so với cùng kỳ. Sản lượng ước đạt 17.271,82 tấn, tăng 2,99% so với cùng kỳ năm trước.
Hoạt động chăn nuôi ở khu vực hộ dân cư được duy trì. Giá thức ăn chăn nuôi nhìn chung vẫn ổn định, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác tái đàn. Tổng đàn trâu tiếp tục có xu hướng giảm do môi trường chăn, thả bị thu hẹp và nhu cầu dùng trâu để cày kéo giảm. Chăn nuôi gia cầm tiếp tục được quan tâm, đầu tư nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu thụ của thị trường, phục vụ khách du lịch, sinh hoạt gia đình, lễ, tết theo phong tục địa phương.
Hoạt động sản xuất lâm nghiệp tiếp tục phát triển, trên địa bàn tỉnh đã hình thành các vùng sản xuất tập trung một số loài cây chủ lực, cây gỗ lớn như vùng cây thông, vùng trồng keo, bạch đàn, tạo điều kiện thuận lợi hoạt động khai thác, hình thành các cơ sở chế biến sản phẩm từ gỗ ngay tại địa phương. Một số sản phẩm gỗ của tỉnh như: ván ép cao cấp, ván bóc, dăm gỗ; lâm sản ngoài gỗ,... đã được xuất khẩu sang nước ngoài, tạo thị trường đầu ra ổn định giúp cho người dân yên tâm mở rộng sản xuất.
Hoạt động thuỷ sản tiếp tục duy trì; xây dựng dự án ưu tiên thả cá giống bổ sung nguồn lợi thủy sản vào một số hồ chứa và dự án nuôi cá lồng giống trắm cỏ, chép lai và cá thịt ghép trong ao; tập huấn về kỹ thuật nuôi trồng, chăm sóc, phòng chống dịch bệnh; hỗ trợ cá giống, thức ăn, thuốc phòng bệnh. Ít chịu tác động của công nghiệp nặng, phù hợp cho các loài cá có giá trị kinh tế cao.
ký kết từ trước và đáp ứng nhu cầu tiêu dùng tăng vào dịp cuối năm. Ngành sản xuất và phân phối điện duy trì mức tăng trưởng tích cực, qua đó góp phần quan trọng vào việc ổn định và duy trì đà tăng trưởng chung của toàn ngành công nghiệp. Tuy nhiên, một số ngành sản phẩm gặp khó khăn về nguồn cung và chất lượng nguyên liệu đầu vào, dẫn đến sản lượng sản xuất giảm so với cùng kỳ, nên đã phần nào ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng chung của ngành công nghiệp. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 5,35% so với cùng kỳ. Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 13,52%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 5,71%, tiếp tục giữ vai trò chủ chốt dẫn dắt mức tăng trưởng chung của toàn ngành công nghiệp; sản xuất và phân phối điện tăng 1,47%; cung cấp nước, xử lý rác thải tăng 1,46%.
Hoạt động xây dựng: Tỉnh đã tập trung chỉ đạo, điều hành quyết liệt công tác đầu tư, coi đây là một trong những động lực chủ yếu thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội. Nhìn chung, hoạt động đầu tư trên địa bàn tỉnh trong năm 2025 tiếp tục duy trì đà tăng trưởng khá; cơ cấu vốn có sự chuyển dịch theo hướng tích cực, giảm dần sự phụ thuộc vào ngân sách nhà nước, tăng vai trò của khu vực ngoài nhà nước. Tổng vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn tỉnh cả năm 2025 ước đạt 29.199,7 tỷ đồng, tăng 17,59% so với cùng kỳ.
* Thương mại, dịch vụ, vận tải
Kim ngạch xuất nhập khẩu qua các cửa khẩu duy trì mức cao, lượng phương tiện và hàng hóa giao thương với Trung Quốc tăng, kéo theo sự phát triển đồng bộ của các ngành dịch vụ logistics, kho bãi, vận tải và dịch vụ hỗ trợ biên mậu. Hiệu suất thông quan đạt cao tại các cửa khẩu đường bộ trung bình từ khoảng 1.600 - 1.800 xe xuất nhập khẩu/ngày, trong đó: Xuất khẩu khoảng 300- 500 xe/ngày, nhập khẩu khoảng 1.100 - 1.200 xe/ngày.
Hoạt động thương mại diễn ra sôi động, giá cả các mặt hàng cơ bản ổn định, hàng hóa phong phú, đa dạng, bảo đảm phục vụ nhu cầu của người dân, không có hiện tượng thiếu hàng cũng như tăng giá đột biến. Các hoạt động quảng bá, xúc tiến du lịch được đẩy mạnh, các chương trình, hoạt động du lịch, lễ hội được tổ chức với quy mô lớn, số lượng người tham gia các lễ hội truyền thống của tỉnh tăng cao. Tổng mức bán lẻ và dịch vụ năm 2025 là 43.603,01, tăng 16,64% so với cùng kỳ.
Hoạt động vận tải hành khách, hàng hóa ổn định, thông suốt, an toàn. Dịch vụ bưu chính, viễn thông tiếp tục được cải thiện, nâng cao về chất lượng. Sự phát triển của hệ thống logistics thông minh, khu trung chuyển hàng hóa, bãi hàng chuyên dụng và mô hình cửa khẩu số giúp tăng mạnh năng lực thông quan, rút ngắn chu kỳ vận tải và giảm ùn tắc tại khu vực Hữu Nghị, Tân Thanh.
1.2. Cơ cấu kinh tế
Quy mô GRDP theo giá hiện hành ước tính đạt 58.273 tỷ đồng. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng định hướng: nông lâm nghiệp và thủy sản chiếm 20,28%, công nghiệp - xây dựng 28,33%, dịch vụ 47,24%, thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm 4,15%.

2. Tài chính, tín dụng
2.1. Tài chính2
- Thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn
Sở Tài chính tiếp tục phối hợp với cơ quan Thuế, Hải quan và các cơ quan liên quan tổ chức thực hiện thu đầy đủ, kịp thời các khoản phải thu theo kết quả Kiểm toán, Thanh tra. Tăng cường quản lý thu ngân sách nhà nước; tiếp tục mở rộng cơ sở thu, nhất là thu từ thương mại điện tử, dịch vụ ăn uống; hiện đại hóa công tác quản lý thuế, quyết liệt thực hiện quy định về hóa đơn điện tử khởi tạo từ máy tính tiền; hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa trong việc chuyển đổi sang hóa đơn điện tử. Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn ước thực hiện năm 2025 là 18.150,9 tỷ đồng, tăng 53,55% so với cùng kỳ, trong đó:
Thu nội địa: Ước đạt 4.087,0 tỷ đồng, tăng 54,2% dự toán tỉnh giao, tăng 33,89% so với cùng kỳ. Thu nội địa đạt kết quả tích cực, Cơ quan thuế đã chủ trì, phối hợp các đơn vị liên quan tập trung tổ chức thực hiện tốt các Luật Thuế và nhiệm vụ thu ngân sách nhà nước; đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến các văn bản, chính sách mới ban hành, thực hiện tốt công tác tiếp nhận và giải quyết thủ tục hành chính thuế của người nộp thuế... bằng nhiều hình thức. Thu từ hoạt động xuất nhập khẩu: Đạt 13.300,0 tỷ đồng, tăng 73,77% so với cùng kỳ. Hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa, xuất nhập cảnh qua địa bàn tỉnh diễn ra ổn định, thuận lợi, thông suốt. Các cơ quan, đơn vị tăng cường phối hợp, tích cực tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho thông quan hàng hóa, kết hợp công tác kiểm soát, chống buôn lậu, gian lận thương mại, đảm bảo an ninh, trật tự, an toàn khu vực cửa khẩu biên giới, thúc đẩy tăng trưởng kim ngạch xuất nhập khẩu qua địa bàn.
Các khoản huy động, đóng góp, hỗ trợ: 747,5 tỷ đồng. Trong đó Thu huy động, đóng góp từ nguồn ngân sách tỉnh Cao Bằng thực hiện GPMB dự án cao tốc Đồng Đăng - Trà Lĩnh (Quyết định số 528/QĐ-UBND ngày 25/4/2025 của UBND tỉnh Cao Bằng) là 570,9 tỷ đồng.
- Chi ngân sách địa phương
Thực hiện kiểm soát chặt chẽ các khoản chi ngân sách bảo đảm đúng định mức, chế độ. Chi đầu tư phát triển được điều hành có trọng điểm, tập trung giải ngân cho các công trình chuyển tiếp, các dự án đã có khối lượng hoàn thành và một số công trình cấp thiết thuộc lĩnh vực y tế, giáo dục, giao thông trên địa bàn các đơn vị hành chính mới sắp xếp. Việc giải ngân được thực hiện gắn với kiểm soát chặt chẽ tiến độ, hiệu quả đầu tư, tránh dàn trải, thất thoát.
Dự ước tổng chi ngân sách địa phương ước thực hiện là 18.668,2 tỷ đồng, tăng 30,17% so với cùng kỳ, trong đó: Chi trong cân đối ngân sách địa phương là 14.105,3 tỷ đồng, tăng 10,67% so với cùng kỳ; chi các chương trình mục tiêu và một số nhiệm vụ khác là 4.562,9 tỷ đồng, tăng 185,85% so với cùng kỳ.

2.2 Ngân hàng3
Các tổ chức tín dụng duy trì triển khai thực hiện các cơ chế, chính sách có liên quan đến hoạt động ngân hàng. Bám sát chủ trương của Chính phủ, định hướng của Ngân hàng Nhà nước (NHNN); cấp tín dụng đối với lĩnh vực bất động sản; đẩy mạnh tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn; các chính sách hỗ trợ về phát triển du lịch cộng đồng, vận tải hành khách cộng cộng bằng xe buýt trên địa bàn tỉnh... Triển khai các giải pháp hỗ trợ người dân khắc phục ảnh hưởng của cơn bão số 10, 11 góp phần ổn định cuộc sống của người dân, phục hồi sản xuất kinh doanh, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp, hợp tác xã tiếp cận vốn tín dụng, đảm bảo thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Tổng huy động vốn ước ước thực hiện đến ngày 31/12/2025 đạt 57.310 tỷ đồng, tăng 14,58% so với 31/12/2024.
Dư nợ tín dụng ước đạt 54.500 tỷ đồng, tăng 19,60% so với 31/12/2024.
3. Chỉ số giá tiêu dùng
3.1. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) chung toàn tỉnh tháng 12/2025
* So với tháng trước: CPI tháng 12/2025 trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn tăng 0,24%. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính, gồm 09 nhóm hàng có chỉ số giá tăng, 02 nhóm hàng có chỉ số giá giảm cụ thể như sau:
+ Chỉ số giá nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,78%; thuốc lá tăng 0,69%; Nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,78%; Nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,23%; Chỉ số giá nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,21%; Chỉ số giá nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,01%; Chỉ số giá nhóm giáo dục tăng 0,04%. Chỉ số giá nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,45%, Chỉ số giá nhóm hàng hoá và dịch vụ khác tăng 0,25%.
+ Chỉ số giá nhóm giao thông giảm 1,46%; Chỉ số giá nhóm thông tin và truyền thông giảm 0,22%.

* So với cùng kỳ năm trước: CPI tháng 12/2025 tăng 2,32%, so với cùng kỳ năm trước. Có 10 nhóm hàng tiêu dùng có chỉ số giá tăng, 01 nhóm hàng có chỉ số giá giảm, cụ thể:
- 10 nhóm hàng tăng giá so với cùng kỳ: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 3,29%, (lương thực giảm 0,79%, thực phẩm tăng 3,56%) Đồ uống và thuốc lá tăng 2,16%; Nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng 2,19%; Nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 3,11%; Nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,80%; Nhóm thuốc và dụng cụ y tế tăng 6,35%; Nhóm giao thông giảm 0,91%.
3.2. Chỉ số giá tiêu dùng quý IV năm 2025 so với cùng kỳ năm trước
Chỉ số giá quý IV năm 2025 tăng 0,61% so với quý trước, tăng 2,13% so với cùng kỳ năm trước và tăng 2,37% so với kỳ gốc năm 2024. Bình quân cùng kỳ trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng, có 10 nhóm hàng tăng giá, 01 nhóm hàng giảm giá. Nguyên nhân chỉ số giá quý IV tăng là do nhu cầu mua sắm quần áo, giày dép khi thời tiết chuyển lạnh tăng kéo theo giá các mặt hàng may mặc, giày dép tăng; bên cạnh đó việc thay đổi thời tiết cũng phần nào làm giảm sản lượng thu hoạch các mặt hàng rau củ quả, nguồn cung giảm khiến giá thực phẩm tăng.
3.3. Bình quân 12 tháng năm 2025
Chỉ số giá tiêu dùng bình quân năm 2025 tăng 1,86%, gồm 09 nhóm tăng giá và 02 nhóm giảm giá. Cụ thể:
Các nhóm hàng có chỉ số giá tăng, gồm: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 3,74%, (lương thực tăng 3,28%, thực phẩm tăng 4,59%, ăn uống ngoài gia đình tăng 0,91%), Nhóm đồ uống, thuốc lá tăng 1,42%; Nhóm may mặc, mũ nón giày dép tăng 0,64%; Nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 3,17%; Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,10%, Thuốc và dụng cụ y tế tăng 6,33%, nhóm này có chỉ số giá tăng do giá dịch vụ y tế tăng theo Nghị quyết 28/2024/NQ-HĐND ngày 31/12/2024 của HĐND tỉnh Lạng Sơn, áp dụng từ ngày 01/01/2025. Nhóm thông tin và truyền thông tăng 0,26%; Nhóm văn hoá, giải trí và du lịch tăng 1,11%; Nhóm hàng hoá và dịch vụ khác tăng 2,64%.
Nhóm hàng có chỉ số giá bình quân chung 12 tháng giảm so với cùng kỳ là nhóm giao thông giảm 2,63%; nhóm giáo dục giảm 9,90% (Chỉ số nhóm giáo dục giảm do các trường mầm non, tiểu học, THCS, THPT công lập miễn học phí theo Nghị quyết số 34/2025/NQ-HĐND ngày 10/11/2025 của HĐND tỉnh Lạng Sơn).
Chỉ số giá tiêu dùng bình quân năm 2025 trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn tăng so với cùng kỳ năm trước. Mức tăng chủ yếu xuất phát từ nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống cùng một số nhóm chi phí sinh hoạt thiết yếu. Nhóm thuốc và dịch vụ y tế có mức tăng cao, tác động trực tiếp đến chi tiêu của người dân. Ngược lại, nhóm giao thông, giáo dục có chỉ số giảm, góp phần kiềm chế tốc độ tăng của chỉ số giá chung.
3.4. Chỉ số giá vàng và đô la Mỹ
Tháng 12/2025, giá vàng trong nước tiếp tục biến động tăng, giảm theo giá vàng thế giới. Đây là nhóm có chỉ số biến động nhiều nhất, trên xu hướng giá vàng trong nước tăng, giảm trong thời gian vừa qua, giá vàng trên địa bàn tỉnh tăng 1,36% so với tháng trước, tăng 63,77% so với cùng kỳ năm trước, so với giá gốc 2024 tăng 94,01%. Chỉ số giá vàng bình quân 12 tháng đầu năm 2025 tăng 46,71% so với cùng kỳ.
Trong tháng 12/2025, đồng đô la Mỹ tăng 0,13% so với tháng trước, tăng 3,76% so với cùng kỳ năm trước, so với năm gốc năm 2024 tăng 5,27%. Chỉ số giá đô la Mỹ bình quân 12 tháng đầu năm 2025 tăng 3,82% so với cùng kỳ.
4. Đầu tư, xây dựng
4.1. Tình hình vốn đầu tư thực hiện
Trong quý IV, vốn đầu tư trên địa bàn ghi nhận mức tăng tích cực trong bối cảnh nhiều địa phương vẫn gặp khó khăn về giải ngân và triển khai dự án, phản ánh sự tập trung chỉ đạo và tổ chức thực hiện quyết liệt của tỉnh trong giai đoạn cuối năm. Cơ cấu nguồn vốn cho thấy khu vực ngoài nhà nước tiếp tục giữ vai trò chủ yếu, thể hiện niềm tin của doanh nghiệp và người dân vào triển vọng phát triển kinh tế địa phương cũng như hiệu quả bước đầu của các giải pháp cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh. Bên cạnh đó, vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước tăng khá so với cùng kỳ, chủ yếu do các chủ đầu tư đẩy mạnh nghiệm thu, thanh toán khối lượng hoàn thành đối với các dự án chuyển tiếp và công trình hoàn thành trong năm, qua đó tiếp tục phát huy vai trò dẫn dắt, tạo nền tảng kết cấu hạ tầng cho phát triển kinh tế – xã hội. Xét theo khoản mục đầu tư, vốn dành cho xây dựng cơ bản vẫn chiếm ưu thế, phù hợp với định hướng ưu tiên đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng và cho thấy nhu cầu mở rộng, nâng cao năng lực sản xuất – kinh doanh trên địa bàn.
Dự ước vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn tỉnh quý IV năm 2025
* Phân theo nguồn vốn:
Tổng vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn tỉnh đạt 9.612,6 tỷ đồng, đạt 14,34% so với cùng kỳ năm trước và tăng 15,85% so với quý III năm 2025, trong đó: Vốn ngân sách Nhà nước trên địa bàn thực hiện đạt 2.682,9 tỷ đồng, tăng 48,58% so với cùng kỳ. Vốn ngoài Nhà nước: Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn vốn ngoài Nhà nước quý IV năm 2025 đạt 6.929 tỷ đồng, tăng 4,99%. Trong đó, vốn của các tổ chức, doanh nghiệp ngoài Nhà nước thực hiện 4.638 tỷ đồng, vốn đầu tư của khu vực dân cư đạt 2.290,9 tỷ đồng.
- Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài quý IV năm 2025 đạt 761 triệu đồng.
* Phân theo khoản mục đầu tư:
Vốn đầu tư xây dựng cơ bản quý IV năm 2025 đạt 7.973,9 tỷ đồng, chiếm 82,95%; đầu tư mua sắm tài sản cố định dùng cho sản xuất không qua xây dựng cơ bản ước đạt 846,3 tỷ đồng, chiếm 8,80%; vốn đầu tư sửa chữa lớn nâng cấp tài sản cố định ước đạt 790,8 tỷ đồng, chiếm 8,23%; vốn bổ sung vốn lưu động dưới dạng hiện vật bằng vốn tự có đạt 150 triệu đồng chiếm, vốn đầu tư khác ước đạt 1,5 tỷ đồng chiếm 0,02%.
Dự ước vốn đầu tư thực hiện năm 2025
Năm 2025, công tác chỉ đạo, điều hành kế hoạch vốn đầu tư công được Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh tập trung chỉ đạo quyết liệt, bám sát các văn bản chỉ đạo của Trung ương. Việc phân bổ, giao kế hoạch vốn bảo đảm đúng quy định, kịp thời, đúng mục tiêu, cơ cấu và danh mục được phê duyệt. Công tác ban hành văn bản triển khai các chương trình mục tiêu quốc gia, giải phóng mặt bằng, kiểm tra, giám sát các dự án, nhất là dự án trọng điểm, được tăng cường. Kế hoạch đầu tư công năm 2025 đã góp phần hoàn thành và đưa vào sử dụng 299 công trình, trong đó có nhiều dự án trọng điểm về giao thông, tái định cư, an sinh xã hội và chuyển đổi số. Kết quả giải ngân đạt trên 100% kế hoạch Trung ương giao, cao hơn năm 2024, góp phần thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội năm 2025 và tạo nền tảng cho giai đoạn 2026–2030.
* Phân theo nguồn vốn: Tổng vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn tỉnh cả năm 2025 ước đạt 29.199,7 tỷ đồng, tăng 17,59% so với cùng kỳ, trong đó: Vốn ngân sách Nhà nước trên địa bàn thực hiện cả năm 2025 ước đạt 7.836,9 tỷ đồng, tăng 37,58% so với cùng kỳ. Vốn đầu tư thực hiện của khu vực ngoài nhà nước ước đạt 21.356,9 tỷ đồng, chiếm 73,14% tổng vốn, tăng 11,63% so với cùng kỳ. Trong đó vốn đầu tư của các doanh nghiệp tư nhân và tổ chức ngoài nhà nước ước đạt 13.653,9 tỷ đồng tăng 15,91% so với cùng kỳ khẳng định động lực chính của khu vực kinh tế tư nhân; vốn đầu tư khu vực hộ dân cư ước đạt 7.703 tỷ đồng tăng 4,78% so với cùng kỳ.
- Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài cả năm 2025 ước đạt 5,9 tỷ đồng giảm 52,15%. Vốn đầu tư nước ngoài đạt thấp còn hạn chế do quy mô rất nhỏ chưa tạo được động lực phát triển lâu dài.

* Phân theo khoản mục đầu tư: Vốn đầu tư xây dựng cơ bản cả năm 2025 ước đạt 23.719,2 tỷ đồng, chiếm 81,23%; đầu tư mua sắm tài sản cố định dùng cho sản xuất không qua xây dựng cơ bản ước đạt 3.514,7 tỷ đồng, chiếm 12,04%; vốn đầu tư sửa chữa lớn nâng cấp tài sản cố định ước đạt 1.935,7 tỷ đồng, chiếm 6,63% so với cùng kỳ, bổ sung vốn lưu động dưới dạng hiện vật bằng vốn tự có ước đạt 28,3 tỷ đồng chiếm 0,10% so với cùng kỳ, vốn đầu tư khác ước đạt 1,8 tỷ đồng chiếm 0,01%.
4.2. Tình hình triển khai các dự án đầu tư công trọng điểm
- Dự án tuyến Cao tốc Đồng Đăng (Lạng Sơn) - Trà Lĩnh (Cao Bằng), công trình có tổng mức đầu tư 7.946,8 tỷ đồng, lũy kế vốn thực hiện từ khi khởi công dự án đến quý IV/2025 ước thực hiện được 4.922,6 tỷ đồng, đạt 62,94% so với kế hoạch.
- Dự án tuyến Cao tốc cửa khẩu Hữu Nghị - Chi Lăng theo hình thức BOT công trình có tổng mức đầu tư 11.024 tỷ đồng, lũy kế vốn thực hiện từ khi khởi công dự án đến quý IV/2025 ước thực hiện được 3.615,5 tỷ đồng, đạt 32,80% so với kế hoạch.
- Dự án Khu đô thị mới Hữu Lũng, huyện Hữu Lũng công trình có tổng mức đầu tư 1.989 tỷ đồng, lũy kế vốn thực hiện từ khi khởi công dự án đến quý IV/2025 ước thực hiện được 471,3 tỷ đồng, đạt 23,69% kế hoạch.
- Dự án Đường giao thông kết nối Quốc lộ 4B đến Quốc lộ 18, huyện Đình Lập: Tổng mức đầu tư 2.296,4 tỷ đồng, lũy kế vốn thực hiện từ khi khởi công dự án đến quý IV/2025 ước thực hiện được 1.889,4 tỷ đồng, đạt 82,28% kế hoạch.
5. Tình hình doanh nghiệp
Từ đầu năm đến hết tháng 11/2025, có 879 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, giảm 22% so với cùng kỳ.
- Tổng số vốn đăng ký kinh doanh là 6.551 tỷ đồng, giảm 28,22% so với cùng kỳ.
- Số doanh nghiệp gửi thông báo tạm ngừng hoạt động là 528 doanh nghiệp, giảm 13,30%; số doanh nghiệp thông báo giải thể là 166 doanh nghiệp, giảm 18,57% so với cùng kỳ.
6. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản
Năm 2025, công tác chỉ đạo phát triển nông, lâm nghiệp và thủy sản tiếp tục được các cấp ủy, chính quyền quan tâm, chỉ đạo quyết liệt. Sản xuất nông nghiệp được tổ chức đúng thời vụ; nguồn lương thực cơ bản đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của nhân dân. Hệ thống thủy lợi được duy tu, nâng cấp, bảo đảm phục vụ sản xuất; vật tư nông nghiệp đáp ứng nhu cầu. Công tác phòng trừ sâu bệnh được triển khai kịp thời, hạn chế thiệt hại. Chương trình phát triển lâm nghiệp bền vững và hoạt động nuôi trồng, khai thác thủy sản được duy trì ổn định.
Tuy nhiên, sản xuất vẫn chủ yếu ở quy mô hộ gia đình; liên kết sản xuất, chế biến, tiêu thụ còn hạn chế; sản xuất hàng hóa chưa rõ nét. Lĩnh vực nông, lâm nghiệp và thủy sản còn phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên, chịu tác động của thiên tai, ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất.
6.1. Nông nghiệp
6.1.1. Cây hằng năm
Tổng diện tích gieo trồng cây hằng năm toàn tỉnh thực hiện được 92.800,17 ha, tăng 0,62% (+572,69 ha) so với cùng kỳ.
Tổng sản lượng lương thực có hạt thực hiện được 308.766,88 tấn, giảm 4,04% (-13.003,2 tấn) so với cùng kỳ.
Cây lúa diện tích gieo trồng ước thực hiện được 47.284,04 ha, giảm 1,16% (-553,06 ha), Trong đó, diện tích lúa giảm ở cả vụ Xuân và vụ Mùa, do vụ Xuân thời tiết khô hạn kéo dài thiếu nước để làm đất gieo cấy; vụ Mùa thì gặp phải thiên tai mưa lớn ngập úng làm giảm diện tích. Tuy nhiên năng suất cây lúa có tăng do gieo trồng các loại giống lúa ngắn ngày, chịu được khô hạn, kháng sâu bệnh. Năng suất đạt 43,48 tạ/ha, giảm 4,53% (-2,06 tạ/ha). Sản lượng đạt 205.591,68 tấn, giảm 5,63% (-12.267,96 tấn).
Cây khoai tây diện tích gieo trồng thực hiện đạt 990,38 ha tăng 30,04%; năng suất đạt 131,25 tạ/ha, tăng 1,0 8%; sản lượng đạt 12.998,32 tấn tăng 31,45% so với cùng kỳ. Cây khoai tây tăng diện tích gieo trồng tại các xã Na Dương, Khuất Xã, Tri Lễ,... Diện tích khoai tây tăng lớn so với cùng kỳ, do sự hợp tác của các doanh nghiệp bên ngoài với nhân dân trong dự án cung cấp giống khoai trồng và bao tiêu sản phẩm, nhờ vậy mà người dân yên tâm sản suất, tăng diện tích gieo trồng.
Cây ngô diện tích gieo trồng ước thực hiện 20.534,98 ha, tăng 2,60%. Trong đó cây ngô vụ Đông Xuân diện tích gieo trồng giảm 0,43% do thời tiết khô hạn không thuận lợi cho gieo trồng, vụ Mùa Diện tích gieo trồng thực hiện tăng 9,26% so với cùng kỳ năm trước. Diện tích ngô tăng do người dân chuyển một phần diện tích trồng lúa sang trồng ngô, do cây ngô chịu hạn tốt hơn. Năng suất đạt 50,24 tạ/ha, giảm 3,23%, sản lượng đạt 103.175,2 tấn, giảm 0,71% so với cùng kỳ năm trước do vụ Mùa chịu ảnh hưởng nặng nề bởi mưa bão.
Cây thuốc lá diện tích gieo trồng thực hiện được 2.801,55 ha, tăng 2,51%. Do thuốc lá là cây trồng có hiệu quả kinh tế cao, giá bán ổn định, những năm gần đây được người dân tập trung gieo trồng và chăm sóc. Diện tích gieo trồng thuốc lá tăng chủ yếu ở các xã Hưng Vũ, Vũ Lăng, Bằng Mạc, Vạn Linh giá bán trên thị trường ổn định mở mức trên 58.000 đồng/kg. Năng suất đạt 23,17/ha, giảm 0,60% (-0,14 tạ/ha), sản lượng đạt 6.490,23 tấn, tăng 1,89% (+120,63 tấn) so với cùng kỳ.
Diện tích gieo trồng một số cây hằng năm năm 2025
so với cùng kỳ (Nghìn Ha)

6.1.2. Cây lâu năm
Ước tính diện tích cây lâu năm sơ bộ 2025 đạt 53.706,33 ha, tăng 0,35% (+196,44 ha) so với cùng kỳ, trong đó:
Cây chè diện tích hiện có là 413,73 ha, tăng 1,46% (+5,94 ha) so với cùng kỳ. Trong đó, diện tích trồng chè búp là chủ yếu với 384,92 ha, tăng 1,82% so với cùng kỳ; năng suất ước đạt 59,7 tạ/ha, tăng 2,68% (+1,56 tạ/ha); sản lượng ước đạt 2.180,92 tấn, tăng 2,83% (+60,03 tấn) so cùng kỳ. Trên địa bàn tỉnh đang có hướng phát triển diện tích trồng chè dưới tán hồi, đây là mô hình hiện có ở một số xã của Lạng Sơn (đã có sản phẩm OCOP), đặc trưng là chè phát triển dưới tán các cây hồi lâu năm, cho hương vị đặc thù và chu kỳ thu hái kéo dài (tháng 2 –10 âm lịch).
Cây na diện tích hiện có 4.607,59 tăng 0,44% so với cùng kỳ, là một trong những cây ăn quả có giá trị kinh tế cao của tỉnh. Việc ứng dụng các biện pháp kỹ thuật canh tác, kéo dài thời gian thu hoạch quả sớm hoặc muộn hơn so với chính vụ, nâng cao giá trị sản phẩm tăng hiệu quả sản xuất. Các hình thức quảng bá sản phẩm na được quan tâm đầu tư, mở rộng như tham gia các hội chợ nông sản, phát triển bán hàng qua các kênh bán hàng online…Năng suất 111,56 tạ/ha, tăng 7,98% (+8,24 tạ/ha). Sản lượng ước đạt 44.250,63 tấn, tăng 7,62% (+3.133,82 tấn) so cùng kỳ.
Cây hồng diện tích sơ bộ đạt 2.184,16 ha, giảm 0,24% (-5,32 ha). Năng suất 81,55 tạ/ha, tăng 3,6% (+2,83 tạ/ha); sản lượng thu hoạch ước đạt 12.761,1 tấn, tăng 3,54% (+435,83 tấn) so với cùng kỳ. Các sản phẩm quả hồng tươi, hồng treo gió, hồng ngâm… đã trở thành thương hiệu để người trồng hồng vành khuyên có thêm thu nhập, từng bước thoát nghèo, tạo nhiều việc làm cho người dân trên địa bàn. Thị trường đầu ra ổn định và giá bán hồng ngâm trên thị trường tương đối cao (từ 30.000 đến 40.000 đồng/kg).
Cây hồi diện tích hiện có là 35.535,81 ha, tăng 1,25% (+438,22 ha) so với cùng kỳ. Năng suất 6,01 tạ/ha, tăng 2,22% (+0,13 tạ/ha); sản lượng ước đạt 17.328,77 tấn, tăng 3,4% (+569,87 tấn) so với cùng kỳ. Giá bán hoa hồi khô vụ tứ quý giao động từ 115.000đ - 117.000đ/1kg, giá bán hoa hồi khô vụ mùa giao động từ 130.000đ – 140.000đ/kg. Diện tích cây hồi tăng, do giá cả, nhu cầu thị trường, cây trồng phù hợp với điều kiện khí hậu thổ nhưỡng của địa phương, hưởng lợi lâu dài, các sản phẩm từ cây hoa hồi mang lại nguồn thu nhập cao cho nhân dân góp phần xoá đói, giảm nghèo bền vững. Nhiều hộ gia đình có thu nhập ổn định qua các năm, cuộc sống của người dân từng bước được cải thiện, chất lượng cuộc sống của bà con ngày được nâng cao từ đó góp phần phát triển kinh tế xã hội.
6.1.3. Chăn nuôi
Tổng đàn trâu, bò có xu hướng giảm, nguyên nhân do thiếu nhân lực chăm sóc (phần lớn người dân trong độ tuổi lao động đi làm tại các khu công nghiệp ở tỉnh khác), môi trường chăn, thả bị thu hẹp, nông nghiệp chuyển hướng sử dụng cơ giới hoá làm đất thay cho sức cày kéo của trâu, bò. Mặt khác, các hộ dân nuôi trâu, bò với mục đích bán thương phẩm nhưng hiện nay cũng chưa hình thành rõ nét, vì vậy người dân xuất bán ra thị trường và không tái đàn. Ước tổng đàn trâu đạt 48.000 con, giảm 11,14% (-6.015 con) so với cùng kỳ năm trước; tổng đàn bò ước đạt 27.380 con, giảm 0,25% (-69 con) so với cùng kỳ.
Ước tổng đàn lợn là 187.360 con, giảm 2,25% (-4.319 con) so với cùng kỳ năm trước. Quý II và III năm 2025, dịch bệnh tả lợn châu Phi diễn biến phức tạp và xảy ra tại 64/65 xã, phường trên địa bàn tỉnh với số lượng lớn lợn bị tiêu hủy . Tháng 10/2025, các xã Thiện Tân, Yên Bình chịu ảnh hưởng nặng nề của cơn bão số 10,11, đây cũng là các địa bàn tập trung các trang trại chăn nuôi lợn quy mô lớn của tỉnh, làm chết gần 8 nghìn con lợn. Ngoài ra, có hợp tác xã An Hồng quy mô chăn nuôi 906 con lợn tạm ngừng hoạt động để chuyển địa điểm cũng làm giảm tổng đàn lợn của toàn tỉnh.
Ước tính tổng đàn gia cầm là 5.054,05 nghìn con, tăng 5,97% (+284,51 nghìn con) so với cùng kỳ. Hiện nay, do tính hiệu quả về chất lượng và kinh tế của việc chăn nuôi gà đồi thả vườn, nên người chăn nuôi đang chú trọng phát triển. Tổng số con xuất chuồng gia cầm chính ước đạt 8.266,46 nghìn con, tăng 5,38% (+422,05 nghìn con); tương đương tổng sản lượng thịt hơi xuất chuồng đạt 19.698,74 tấn, tăng 6,74% (+1.243,55 tấn) so với cùng kỳ.
Số lượng một số sản phẩm chăn nuôi chủ yếu năm 2025
so với cùng kỳ (nghìn tấn)

6.2. Lâm nghiệp
Diện tích rừng trồng mới năm 2025 ước thực hiện được 11,95 nghìn ha,. Trồng rừng mang lại giá trị kinh tế cao, khâu tiêu thụ sản phẩm được đảm bảo, giúp cho người dân yên tâm mở rộng sản xuất (cây trồng chủ yếu là gỗ keo, thông và bạch đàn); trên các diện tích đất lâm nghiệp đã khai thác gỗ, người dân nhanh chóng trồng lại, với phương châm phủ xanh, không để đất trống, đồi núi trọc. Công tác chuẩn bị giống, đất trồng và hỗ trợ kỹ thuật được triển khai tương đối đồng bộ; các chủ rừng thực hiện trồng rừng theo đúng mùa vụ và quy trình kỹ thuật.
Ươm giống cây lâm nghiệp ước thực hiện được 617,12 triệu cây, tăng 1,61% so với cùng kỳ, ươm giống cây lâm nghiệp đem lại thu nhập cao cho các hộ sản xuất giống cây lâm nghiệp. Công tác cải tạo giống, nâng cao chất lượng giống cây trồng lâm nghiệp tiếp tục được quan tâm, một số loại giống mới sinh trưởng nhanh, có giá trị kinh tế cao đã được đưa vào sản xuất như giống thông, keo lai, bạch đàn lai, giống mô, hom…. Sản lượng cây giống đáp ứng nhu cầu cây giống tại địa phương và các tỉnh khác.
Sản lượng gỗ khai thác ước thực hiện 788,2 nghìn m3, tăng 11,12% so với cùng kỳ. Nhiều hộ dân chuyển từ khai thác rừng đạt 7 năm xuống còn 5 - 6 năm nhằm quay vòng vốn nhanh, đồng thời đáp ứng nhu cầu nguyên liệu cho sản xuất sản phẩm dăm gỗ, viên nén. Sản lượng củi khai thác và tiêu thụ ước 582,6 nghìn ste, tăng 2,91% so với cùng kỳ.
6.3. Thủy sản
Sản lượng thủy sản năm 2025 trên địa bàn tỉnh ước đạt 2.310,91 tấn, tăng 3,56% (+79,35 tấn) so với cùng kỳ.
Sản lượng thủy sản khai thác ước 320,3 tấn, tăng 6,72% so với cùng kỳ. Do mực nước trên các sông, suối, lòng hồ cơ bản ổn định; tận dụng nguồn nước ở sông, suối, người dân tranh thủ lúc thời vụ nông nhàn để khai thác, vừa để cải thiện bữa ăn vừa để tăng thêm thu nhập.
Sản lượng thủy sản nuôi trồng trong năm ước đạt 1.985,37 tấn, tăng 3,88% so với cùng kỳ. Trong đó, sản lượng cá nuôi ước đạt 1.975,65 tấn, tăng 3,94% so với cùng kỳ. Sản lượng thủy sản nuôi trồng tăng do dịch bệnh trên thủy sản không có phát sinh, mô hình nuôi cá lồng phát triển đã tận dụng, khai thác tối đa diện tích mặt nước đối với các loài cá truyền thống và các loài cá khác.
7. Sản xuất công nghiệp
Năm 2025, hoạt động sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn cơ bản được duy trì ổn định. Các ngành công nghiệp chủ lực như khai khoáng và công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục đẩy mạnh sản xuất nhằm thực hiện các đơn hàng đã ký kết từ trước và đáp ứng nhu cầu tiêu dùng tăng vào dịp cuối năm. Ngành sản xuất và phân phối điện duy trì mức tăng trưởng tích cực, qua đó góp phần quan trọng vào việc ổn định và duy trì đà tăng trưởng chung của toàn ngành công nghiệp. Tuy nhiên, một số ngành sản phẩm gặp khó khăn về nguồn cung và chất lượng nguyên liệu đầu vào, dẫn đến sản lượng sản xuất giảm so với cùng kỳ năm trước, qua đó ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng chung của ngành công nghiệp. Kết quả sản xuất công nghiệp tháng 12, quý IV và năm 2025 cụ thể như sau:
7.1. Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 12/2025
7.1.1. So với tháng trước
Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 12 năm 2025 tăng 10,29% so với tháng trước, cụ thể: ngành công nghiệp khai khoáng tăng 20,99%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 3,96%; ngành công nghiệp sản xuất và phân phối điện tăng 31,01%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải tăng 0,89%.
Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 20,99%, trong đó: khai thác than tăng mạnh 169,3%, chủ yếu do Công ty Than Na Dương tăng sản lượng khai thác để đáp ứng nhu cầu than phục vụ sản xuất điện của Công ty Nhiệt điện Na Dương trong bối cảnh nhu cầu sử dụng điện cuối năm tăng cao.
Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo dự ước tăng 3,96%. Nguyên nhân chính công nghiệp chế biến, chế tạo có chỉ số sản xuất tăng là do vào dịp cuối năm, nhu cầu tiêu thụ tăng, các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất cá thể công nghiệp nhận được thêm đơn hàng nên dự kiến tăng sản lượng sản xuất, cụ thể: sản xuất chế biến thực phẩm tăng 7,19%; sản xuất đồ uống tăng 7,37%; sản xuất trang phục tăng 6,83%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 16,57%; công nghiệp chế biến chế tạo khác tăng 14,42. Riêng ngành in sao chép bản ghi các loại tăng mạnh 74,85% do công ty Cổ phần Thiên Ngân vào thời điểm cuối năm nhận thêm nhiều đơn đặt hàng, dẫn đến sản lượng sản xuất tăng cao so với cùng kỳ.
Ngành sản xuất và phân phối điện có chỉ số sản xuất tăng mạnh 31,01%, trong đó: điện sản xuất tăng 39,76% (tăng 15,41 triệu KWh).
Ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải nước thải có chỉ số sản xuất tăng 0,89%. Trong đó, khai thác, xử lý và cung cấp tăng 0,51%; hoạt động thoát nước và xử lý nước thải tăng 4%; hoạt động thu gom, xử lý và tiêu huỷ rác thải, tái chế phế liệu tăng 0,81% so với tháng trước.
7.1.2. So với cùng kỳ
Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 12/2025 so với cùng kỳ tăng 9,61%, nguyên nhân chủ yếu là do hoạt động sản xuất phục hồi, nhiều doanh nghiệp nhận được thêm đơn hàng và nhu cầu thị trường tăng nên sản xuất tăng so với cùng kỳ. cụ thể:
Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 9,4%, trong đó: hoạt động khai khoáng khác (đá xây dựng) tăng 33,16%, do năm 2025, trên địa bàn tỉnh có nhiều dự án, công trình xây dựng lớn, sản phẩm có thị trường tiêu thụ nên các doanh nghiệp tăng năng suất sản xuất so với cùng kỳ; ngược lại hoạt động khai thác than giảm mạnh 30,28%, do nhu cầu tiêu thụ than của Công ty Cổ phần Nhiệt điện Na Dương giảm mạnh so với cùng kỳ.
Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 13,86%, chủ yếu do tác động của một số ngành: chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ tăng 22,73% nhờ tận dụng nguồn nguyên liệu trồng rừng ổn định; sản xuất đồ uống tăng 21,45% do nhu cầu tiêu thụ đồ uống tăng mạnh phục vụ thị trường Tết Dương lịch và Tết Nguyên đán 2026; sản xuất chế biến thực phẩm tăng 18,92% do các doanh nghiệp và cơ sở cá thể mở rộng thị trường tiêu thụ, đẩy mạnh sản xuất các mặt hàng có nhu cầu cao dịp cuối năm; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 10,45% do Công ty Cổ phần thương mại sản xuất da Nguyên Hồng nhận được thêm các đơn hàng gia công từ các doanh nghiệp trong nước nên sản lượng gia công tăng. Một số ngành có mức tăng cao như: công nghiệp chế biến chế tạo khác tăng 106,87%; sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 96,58%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 93,88%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 82,46%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 46,12%; sản xuất giường tủ bàn ghế tăng 14,95% sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 13,54%.
Ở chiều ngược lại, trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo một số nhóm ngành có chỉ số sản xuất giảm, cụ thể: sản xuất trang phục giảm 10,13%; in sao chép bản ghi các loại giảm 12,06%; sản xuất kim loại giảm 12,04%; sản xuất máy móc thiết bị chưa được phân vào đâu giảm 13,48%. Nguyên nhân chủ yếu do các doanh nghiệp nhận được ít đơn hàng mới nên giảm sản xuất so với cùng kỳ năm trước.
Ngành sản xuất và phân phối điện giảm 1,16%. Trong đó: điện sản xuất giảm 2,03%, tương đương giảm 1,12 triệu Kwh; điện thương phẩm tăng 3,28%, tương đương tăng 2,49 triệu Kwh.
Ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,05%: Hoạt động khai thác, xử lý và cung cấp nước tăng 5,91%; thoát nước và xử lý nước thải tăng 5,27%; hoạt động thu gom, xử lý và tiêu huỷ rác thải, tái chế phế liệu tăng 8,46% so với cùng kỳ.
7.2. Chỉ số sản xuất công nghiệp quý IV và cả năm 2025 so với cùng kỳ
Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp dự ước quý IV năm 2025 tăng 1,06% so với cùng kỳ năm trước. Ngành khai khoáng tăng 3,53%, trong đó hoạt động khai khoáng khác (đá xây dựng) tăng 34,23%, do năm 2025, trên địa bàn tỉnh có nhiều dự án, công trình xây dựng lớn, sản phẩm có thị trường tiêu thụ nên các doanh nghiệp tăng năng suất sản xuất so với cùng kỳ. Ngược lại hoạt động khai thác than giảm 48,37%, do nhu cầu tiêu thụ than của Công ty Cổ phần Nhiệt điện Na Dương giảm và do quý IV ảnh hưởng của mưa bão nên hoạt động khai thác than gặp nhiều khó khăn. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,12%, chủ yếu do một số ngành cấp 2 tăng mạnh. Cụ thể, ngành sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 132,14% do vào thời điểm cuối năm Công ty TNHH Chi Lê và Công ty TNHH Thực Nghiệp Tân Hải Lạng Sơn nhận thêm nhiều đơn hàng, qua đó đẩy mạnh sản xuất, tăng sản lượng. Ngành sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 130,45% do Công ty TNHH Xe điện ĐK Việt Nhật tập trung sản xuất, lắp ráp và bàn giao sản phẩm theo tiến độ các đơn hàng cuối năm; đồng thời cùng kỳ năm trước doanh nghiệp đang trong giai đoạn phục hồi sản xuất sau sự cố cháy xưởng, nên sản lượng ở mức thấp, làm mức tăng so sánh cao. Bên cạnh đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo khác tăng 108,59%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và quang học tăng 58,87%; sản xuất hóa chất và sản phẩm từ hóa chất tăng 40,12%; sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu tăng 25,35%, góp phần nâng mức tăng chung của toàn ngành chế biến, chế tạo.
Tuy nhiên, một số ngành vẫn gặp nhiều khó khăn, dẫn đến sản xuất giảm so với cùng kỳ năm trước, gồm: in, sao chép bản ghi các loại giảm 24%; sản xuất kim loại giảm 15,7% do thiếu nguồn nguyên liệu nhập khẩu; sản xuất trang phục giảm 9,14%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế giảm 7,18%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan giảm 6,08%. Ngành sản xuất và phân phối điện giảm 20,74%, nguyên nhân chủ yếu do Công ty Nhiệt điện Na Dương điều chỉnh kế hoạch sản xuất điện theo phương thức phân phối, huy động của Tổng công ty Điện lực miền Bắc (EVN), làm sản lượng điện phát trong kỳ giảm so với kỳ trước. Ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải duy trì ổn định với mức tăng 2,72%, đáp ứng nhu cầu thiết yếu của dân cư và doanh nghiệp.
Chỉ số sản xuất công nghiệp năm 2025 so với cùng kỳ 
Chỉ số sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh năm 2025 tăng 5,35% so với năm 2024. Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 13,52%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 5,71%, tiếp tục giữ vai trò chủ chốt dẫn dắt mức tăng trưởng chung của toàn ngành công nghiệp; sản xuất và phân phối điện tăng 1,47%; cung cấp nước, xử lý rác thải tăng 1,46%.
Một số sản phẩm công nghiệp chủ lực của tỉnh tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong duy trì và thúc đẩy tăng trưởng sản xuất toàn ngành. Đá xây dựng các loại ước đạt mức sản lượng 5,56 triệu m³, tăng 20,86% so với cùng kỳ, phản ánh nhu cầu vật liệu xây dựng phục vụ các dự án hạ tầng và dân sinh trên địa bàn tăng mạnh. Bên cạnh đó, Clanhke xi măng và Xi măng Portland đen tiếp tục giữ vị trí chủ lực trong nhóm vật liệu xây dựng, với sản lượng lần lượt đạt 826.246 tấn và 1.485.613 tấn, đều tăng trên 15% so với cùng kỳ, cho thấy sự phục hồi mạnh mẽ của ngành xi măng sau giai đoạn sản xuất gián đoạn trong năm trước. Sản lượng điện sản xuất đạt 619,76 triệu kWh, tăng 0,36%, tiếp tục bảo đảm nhu cầu năng lượng cho sản xuất và sinh hoạt
7.3. Chỉ số tiêu thụ, tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo
Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo năm 2025 giảm 0,98% so với cùng kỳ; mức tiêu thụ một số ngành vẫn gặp nhiều khó khăn.
Hàng tồn kho tháng 12/2025 tăng 175,6% so với cùng kỳ, phản ánh khả năng tiêu thụ sản phẩm của một số ngành còn chậm, trong bối cảnh thị trường đầu ra gặp khó khăn, nhu cầu tiêu dùng và đầu tư phục hồi chưa đồng đều.
7.4. Chỉ số sử dụng lao động
Chỉ số sử dụng lao động năm 2025 tăng 1,12% so với năm 2024, chủ yếu ở ngành công nghiệp chế biến chế tạo và doanh nghiệp ngoài quốc doanh.
7.5. Xu hướng sản xuất kinh doanh quý IV năm 2025
Xu hướng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp quý IV/2025 so với quý trước: 45,16% doanh nghiệp đánh giá tốt lên; 35,48% doanh nghiệp giữ ổn định; 19,35% số doanh nghiệp cho rằng sản xuất kinh doanh khó khăn hơn.
Để giữ vững và thúc đẩy đà tăng trưởng ngành công nghiệp trong thời gian tới, tỉnh cần tiếp tục hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận vốn, ổn định nguồn nguyên liệu; Mở rộng thị trường tiêu thụ, đặc biệt là thị trường xuất khẩu; Khuyến khích đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực sản xuất của doanh nghiệp. Tăng cường kết nối giữa các doanh nghiệp công nghiệp và các lĩnh vực dịch vụ, thương mại, nông nghiệp trên địa bàn.
8. Thương mại và dịch vụ
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng trên địa bàn tỉnh tháng 12/2025 ước đạt 3.902,42 tỷ đồng (chưa bao gồm doanh thu dịch vụ thông tin truyền thông và chuyên môn khoa học), tăng 2,1% so với tháng trước và tăng 18,57% so với cùng kỳ. Trong đó, doanh thu bán lẻ hàng hóa ước đạt 3.406,09 tỷ đồng tăng 1,99% so với tháng trước và tăng 18,70% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 312,57 tỷ đồng, tăng 3,05% với tháng trước và tăng 15,97% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ lữ hành ước đạt 1,07 tỷ đồng, tăng 9,37% so với tháng trước và tăng 27,27% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ khác ước đạt 182,69 tỷ đồng, tăng 2,53% so với tháng trước và tăng 20,82% so với cùng kỳ.

Ngay từ đầu năm 2025, tỉnh Lạng Sơn đã chủ động, quyết liệt chỉ đạo các sở, ban, ngành và địa phương triển khai đồng bộ nhiều giải pháp tháo gỡ khó khăn, hỗ trợ doanh nghiệp duy trì và phát triển sản xuất, kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Các giải pháp trọng tâm gồm: đẩy mạnh xúc tiến thương mại, du lịch; thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công; triển khai các gói tín dụng hỗ trợ; miễn, giảm, gia hạn thuế, phí; tháo gỡ khó khăn thị trường bất động sản và bảo đảm an sinh xã hội. Nhờ đó, hoạt động thương mại, dịch vụ, vận tải trên địa bàn tỉnh năm 2025 phát triển mạnh mẽ.
8.1. Bán lẻ hàng hóa
Tổng mức bán lẻ hàng hóa tháng 12/2025 ước tính đạt 3.406,09 tỷ đồng, tăng 1,99% so với tháng trước và tăng 18,7% so với cùng kỳ năm 2024. Trong đó: Nhóm Đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 4,46% và hàng may mặc tăng 4,31% tăng cao nhất, cho thấy sức mua cải thiện rõ so với tháng trước. Các nhóm gỗ và vật liệu xây dựng tăng 3,25%, phương tiện đi lại trừ ô tô con tăng 3,34% và vật phẩm văn hóa, giáo dục tăng 2,08%; Nhóm Lương thực, thực phẩm tăng 1,77% và xăng, dầu các loại tăng 1,57%, ô tô con tăng 0,66%, nhiên liệu khác tăng 0,32% và đá quý, kim loại quý tăng 0,43% tăng ở mức vừa phải, phù hợp với đặc điểm là nhóm hàng thiết yếu, nhu cầu tương đối ổn định.
Doanh thu bán lẻ hàng hóa quý IV/2025 ước đạt 10.009,29 tỷ đồng, tăng 5,94% so với quý trước và tăng 17,52% cùng kỳ năm trước. Trong đó, biến động một số nhóm hàng như: Doanh thu nhóm hàng lương thực, thực phẩm quý IV/2025 ước tính đạt 2.944,99 tỷ đồng, tăng 0,7% so với quý trước và tăng 19,82% so với cùng kỳ năm 2024. Doanh thu nhóm hàng vật phẩm văn hoá, giáo dục ước tính đạt 29,2 tỷ đồng, tăng 5,2% so với quý trước và tăng 19,71% so với cùng kỳ năm 2024. Doanh thu nhóm đá quý, kim loại quý và sản phẩm ước tính đạt 1.138,64 tỷ đồng, tăng 138,58% so với trước và tăng 346,89% so với cùng kỳ năm 2024.
Tính chung cả năm 2025, doanh thu bán lẻ hàng hóa ước tính đạt 38.319,57 tỷ đồng, tăng 16,9% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó doanh thu tăng chủ yếu ở một số nhóm ngành chính như: Lương thực, thực phẩm tăng 22,38% do giá các mặt hàng lương thực, thực phẩm tăng và nhu cầu tiêu dùng của người dân tăng cao trong các dịp lễ Tết và các tháng hè cao điểm du lịch. Nhóm đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 153,95% cho thấy sức mua tăng mạnh của người dân trước biến động của giá vàng trong nước. Doanh thu nhóm hàng hóa khác tăng 18,51%, dịch vụ sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác tăng 18,28% đã thể hiện mức sống người dân ngày càng tăng kéo theo nhu cầu mua sắm và sử dụng dịch vụ ngày càng phát triển.
8.2. Dịch vụ
8.2.1. Doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành
Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống tháng 12/2025 ước đạt 312,57 tỷ đồng, tăng 3,05% so với tháng trước và tăng 15,97% so với cùng kỳ. Chia ra: Doanh thu dịch vụ lưu trú ước đạt 18,3 tỷ đồng, tăng 5,55% so với tháng trước và tăng 24,49% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ ăn uống ước đạt 294,27 tỷ đồng, tăng 2,9% so với tháng trước và tăng 15,47% so với cùng kỳ.
Doanh thu dịch vụ lữ hành đạt 1,07 tỷ đồng, tăng 9,37% so với tháng trước và tăng 27,27% so với cùng kỳ.
Quý IV/2025, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước tính đạt 914,58 tỷ đồng tăng 17,65% so với quý trước và tăng 14,09% so với cùng kỳ. Trong đó dịch vụ lưu trú ước đạt 54,26 tỷ đồng, tăng 7,86 so với quý trước và tăng 14,86. Dịch vụ ăn uống đạt 860,34 tỷ đồng, tăng 18,32 so với quý trước và tăng 14,04. Dịch vụ lữ hành ước đạt 2,97 tỷ đồng, tăng 18,29% và tăng 18,01% so với cùng kỳ.
Trong năm 2025, lĩnh vực lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành đạt mức tăng trưởng đáng kể. Đặc biệt, giai đoạn đầu năm ghi nhận sự bứt phá khi nhu cầu chi tiêu và du lịch của người dân tăng mạnh nhờ các kỳ nghỉ lễ dài. Đây chính là động lực quan trọng giúp doanh thu toàn ngành cải thiện rõ rệt. Ước tính tổng doanh thu từ các hoạt động này đạt 3.349,46 tỷ đồng, tăng 16,29% so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể: Dịch vụ lưu trú đạt 200,54 tỷ đồng tăng 17,99%; dịch vụ ăn uống đạt 3.148,92 tỷ đồng tăng 16,18%; dịch vụ lữ hành đạt 11,2 tỷ đồng tăng 11,53%.
8.2.2. Doanh thu dịch vụ khác
Doanh thu dịch vụ khác tháng 12/2025 ước đạt 182,69 tỷ đồng, tăng 2,53% so với tháng trước và tăng 20,82% so với cùng kỳ. Cộng dồn cả năm ước đạt 1.922,78 tỷ đồng tăng 10,7% so với năm 2024. Trong đó, một số nhóm dịch vụ tăng cao so với cùng kỳ như: Nhóm dịch vụ hành chính và hỗ trợ ước đạt 184,95 tỷ đồng, tăng 22,53% so với cùng kỳ, phản ánh nhu cầu thuê ngoài và hỗ trợ doanh nghiệp ngày càng phổ biến trong kinh doanh; Dịch vụ giáo dục và đào tạo ước đạt 121,47 tỷ đồng, tăng 5% so với cùng kỳ, mức tăng ổn định nhờ sự phát triển của các trung tâm ngoại ngữ; Dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội đạt 294,88 tỷ đồng, tăng 13,94% so với cùng kỳ; Dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí ước đạt 167,97 tỷ đồng, tăng 9,76% so với cùng kỳ. Dịch vụ khác đạt 535,8 tỷ đồng, tăng 12,03% so cùng kỳ, phản ánh đời sống của người dân được cải thiện kéo theo nhu cầu sử dụng các loại hình dịch vụ đa dạng hơn như làm đẹp, chăm sóc cá nhân, dịch vụ gia đình, sửa chữa – bảo trì, đào tạo ngắn hạn.
8.3. Vận tải
Trong tháng 12/2025, hoạt động vận tải và xuất nhập khẩu qua các cửa khẩu của tỉnh Lạng Sơn nhìn chung duy trì ổn định và có xu hướng tăng so với tháng trước. Vận tải hành khách tăng do nhu cầu đi lại, mua sắm, tham quan và tham gia các sự kiện, lễ hội cuối năm của người dân và du khách. Nhu cầu vận chuyển hàng hóa cũng tăng lên rõ rệt, đặc biệt là vận tải đường bộ và vận tải qua cửa khẩu, phục vụ hoạt động thương mại biên giới, lưu thông nông sản, hàng tiêu dùng và nguyên vật liệu phục vụ sản xuất, xây dựng.
Dự ước doanh thu vận tải, kho bãi tháng 12 đạt 247,13 tỷ đồng, tăng 0,99% so với tháng trước và tăng 12,43% so với cùng kỳ. Trong đó: doanh thu vận tải hành khách ước đạt 32 tỷ đồng, tăng 0,95% so với tháng trước và tăng 10,95% so với cùng kỳ; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 117,12 tỷ đồng, tăng 1,42% so với tháng trước và tăng 13,89% so với cùng kỳ; doanh thu hoạt động kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 97,02 tỷ đồng, tăng 0,46% so với tháng trước và tăng 10,5% so với cùng kỳ; doanh thu hoạt động bưu chính, chuyển phát ước đạt 0,99 tỷ đồng, tăng 3,41% so với tháng trước và tăng 213,32% so với cùng kỳ.
Quý IV/2025, Dự ước tổng doanh thu vận tải, kho bãi đạt 731,14 tỷ đồng, tăng 0,95% so với quý trước và tăng 13,27% so với cùng kỳ. Trong đó: doanh thu vận tải hành khách ước đạt 95,32 tỷ đồng, tăng 4,18% so với quý trước và tăng 12,32% so với cùng kỳ; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 345,72 tỷ đồng, tăng 3,09% so với quý trước và tăng 15,41% so với cùng kỳ; doanh thu hoạt động kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 287,52 tỷ đồng, giảm 2,71% so với quý trước và tăng 10,52% so với cùng kỳ; doanh thu hoạt động bưu chính, chuyển phát ước đạt 2,58 tỷ đồng, tăng 39,71% so với quý trước và tăng 187,12% so với cùng kỳ.
Dự ước tổng doanh thu vận tải, kho bãi năm 2025 đạt 2.867,47 tỷ đồng, tăng 13,23% so với cùng kỳ. Trong đó: Doanh thu vận tải hành khách ước đạt 368,65 tỷ đồng, tăng 12,75%; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 1.335,61 tỷ đồng, tăng 11,96%; doanh thu hoạt động kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 1.156,4 tỷ đồng, tăng 14,6%; doanh thu hoạt động bưu chính, chuyển phát ước đạt 6,78 tỷ đồng, tăng 98,97% so với cùng kỳ.

Khối lượng vận chuyển hành khách ước đạt 6,89 triệu hành khách (HK), tăng 11,64% so với cùng kỳ; khối lượng luân chuyển hành khách ước đạt 443,96 triệu HK.km, tăng 11,45% so với cùng kỳ.
Khối lượng vận chuyển hàng hóa ước đạt 2,72 triệu tấn, tăng 16,54% so với cùng kỳ; khối lượng luân chuyển hàng hóa ước đạt 725,13 triệu tấn.km, tăng 19,58% so với cùng kỳ.
II. CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI
1. Dân số, lao động, việc làm
Dân số trung bình năm 2025 ước tính 820,6 nghìn người, tăng 0,82% tương đương tăng 6,6 nghìn người so với cùng kỳ. Trong tổng số, dân số nam 419,9 nghìn người, chiếm 51,17%; nữ 400,75 nghìn người, chiếm 48,83%. Tỷ số giới tính của dân số năm 2025 là 104,79 nam/100 nữ.

Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên ước năm 2025 là 338,2 nghìn người, tăng 3,2 nghìn người so với cùng kỳ. Trong đó, khu vực thành thị là 65,6 nghìn người, tăng 1,7 nghìn người so với cùng kỳ; khu vực nông thôn là 155,8 nghìn người, tăng 1,5 nghìn người. Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động là 95,7%, giảm 0,1 điểm phần trăm.
Năm 2025, lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc là 323,7 nghìn người, tăng 2,7 nghìn người (tương ứng tăng 0,85%) so với cùng kỳ. Phân theo khu vực kinh tế, lao động có việc làm năm 2025 trong khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản là 125,5 nghìn người, chiếm 38,77% và giảm 3,9 nghìn người so với cùng kỳ; khu vực công nghiệp và xây dựng là 76,3 nghìn người, chiếm 23,57% và tăng 3,0 nghìn người; khu vực dịch vụ là 121,1 nghìn người, chiếm 37,66% và tăng 3,6 nghìn người so với cùng kỳ. Trong những năm gần đây, sự chuyển dịch cơ cấu lao động giữa các ngành có sự thay đổi: Cơ cấu lao động làm việc trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản có xu hướng giảm, ngược lại, cơ cấu lao động làm việc trong lĩnh vực công nghiệp - xây dựng và dịch vụ có xu hướng tăng. Nguyên nhân do nhận thức của người lao động và nhu cầu tìm kiếm công việc có thu nhập cao hơn, ổn định hơn so với công việc hiện tại.
Công tác tư vấn và giới thiệu việc làm: Trong năm ước giải quyết việc làm mới cho khoảng 17.000 lao động trên địa bàn tỉnh, đạt 91,89% kế hoạch, trong đó ước số lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng là 800 người; triển khi các hoạt động lĩnh vực việc làm theo quy định. Tổ chức 14 Phiên giao dịch việc làm online kết nối trực tuyến với các tỉnh, thành phố phía Bắc; 62 phiên giao dịch việc làm thứ 5 hàng tuần tại Sàn giao dịch việc làm (GDVL); 32 phiên GDVL lưu động xã, các trường trung học phổ thông, trung tâm giáo dục thường xuyên – giáo dục nghề nghiệp, cơ sở Cai nghiện ma tuý tỉnh.
2. Hoạt động y tế và sức khỏe cộng đồng4
Các đơn vị tiếp tục thực hiện nghiêm túc quy chế chuyên môn, cụ thể hóa thành các quy trình nội bộ, tăng cường công tác phát triển các dịch vụ kỹ thuật nhằm nâng cao chất lượng chuyên môn, đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh ngày càng đa dạng của nhân dân. Tiếp tục triển khai đề án 1816, khám chữa bệnh từ xa và hộ trợ chuyên môn của các bệnh viện tuyến tỉnh cho các trung tâm y tế khu vực, nhằm chuyển giao các dịch vụ kỹ thuật cao cho tuyến cơ sở. Đảm bảo y tế cho các sự kiện lớn của tỉnh. Tăng cường công tác phòng, chống dịch bệnh, giám sát bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, dịch bệnh mới nổi, đặc biệt là sởi, Rubela, bệnh dại, bệnh bạch hầu....
Kết quả trong tháng 12, khám chữa bệnh công lập khám được 123.602 lượt, cộng dồn đạt 1.148.287/954.900 lượt đạt 120,3% kế hoạch năm. Khám chữa bệnh tại các cơ sở ngoài công lập khám được 34.158 lượt, cộng dồn 318.192 lượt, trong đó khám bảo hiểm y tế 31.819 lượt (cộng dồn 284.530 lượt).
Công tác tiêm chủng mở rộng: Duy trì thực hiện tiêm chủng cho trẻ em dưới 1 tuổi trên 65 xã/phường. Đảm bảo thực hiện nghiêm quy định, quy trình tiêm chủng. Không có tai biến xảy ra trong tiêm chủng.
Công tác truyền thông giáo dục sức khỏe tiếp tục đẩy mạnh thông qua các hình thức truyền thông trực tiếp và gián tiếp. Trong tháng duy trì thực hiện chuyên mục “Sức khỏe cộng đồng” trên báo Lạng Sơn, chuyên mục “Sức khoẻ đời sống” trên Đài Phát thanh truyền hình tỉnh, Website Sở Y tế; huy động sự tham gia, phối hợp của các sở, ban, ngành, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể để nâng cao hiệu quả công tác truyền thông giáo dục sức khỏe, vệ sinh môi trường, phòng chống bệnh tật, an toàn thực phẩm, phòng chống HIV/AIDS.
3. Hoạt động văn hoá, thể thao và du lịch5
Hoạt động văn hóa được chú trọng và quan tâm: Tổ chức thành công các sự kiện Lễ hội Hoa Đào Xứ Lạng; các hoạt động mừng Đảng mừng Xuân Ất Tỵ và các hoạt động kỷ niệm các ngày lễ lớn, sự kiện lịch sử quan trọng trong năm 2025 trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn; Phối hợp với phòng Văn hoá - xã hội, UBND các xã Tân Văn; Đoàn Kết; Châu Sơn; khảo sát xây dựng CLB sinh hoạt văn hoá dân gian thuộc CTMTQG năm 2025. Xây dựng CLB sinh hoạt văn hoá dân gian tại xã Đồng Đăng; xã Tân Văn. Tham gia Chương trình “Vui tết độc lập” tại Làng Văn hoá các dân tộc Việt Nam, Đồng Mô, Sơn Tây, Hà Nội và 02 cuộc triển lãm tranh cổ động kỷ niệm 50 năm Ngày giải phóng Miền Nam thống nhất đất nước (30/4/1975- 30/4/2025) và 80 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam 02/9.
Công tác thể dục thể thao: Tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại”. Tổ chức thành công giải chạy “Mẫu Sơn Mount Paths” năm 2025. Tổ chức giải Đua bè mảng trên Sông Kỳ Cùng năm 2025, biểu diễn võ thuật trong khuôn khổ Lễ hội Hoa Đào Xứ Lạng, các hoạt động mừng Đảng, mừng Xuân Ất Tỵ năm 2025 và các giải thể thao cấp tỉnh theo kế hoạch. Tham gia giải thể thao khu vực và toàn quốc đạt 126 huy chương các loại (20 HCV, 40 HCB, 65 HCĐ). Đội Bóng đá U11 tỉnh Lạng Sơn tham gia giải Bóng đá nhi đồng U11 toàn quốc Cúp Nestle' Milo năm 2025 xuất sắc giành huy chương đồng. Cử 04 vận động viên tham gia giải thể thao quốc tế ở môn Muay, Cử tạ, Wushu, Điền kinh đạt 08 huy chương (05 huy chương vàng, 03 huy chương đồng). Tăng cường mở rộng hợp tác phát triển TDTT với các tỉnh trong vùng, các trường đại học TDTT, trung tâm huấn luyện thể thao, viện khoa học thể thao. Trong năm 2025 tỉnh đã phối hợp Cục Thể dục thể thao cử 04 VĐV tham dự giải 04 giải thể thao quốc tế. Thành lập Đoàn vận động viên tham dự giải Câu cá Hữu nghị Trung - Việt “Cúp xổ số thể thao Trường Lạc” lần thứ nhất năm 2025 tại thị Bằng Tường, Quảng Tây, Trung Quốc. Tham dự giải Bóng chuyền hơi Hữu nghị “Siêu huyện” Trung - Việt năm 2025 tại thị Bằng Tường, Quảng Tây Trung Quốc. Mời Đoàn Đại biểu, vận động viên thị Bằng Tường, Quảng Tây, Trung Quốc sang thăm và thi đấu giao hữu môn Cờ tướng tại Lạng Sơn.
Về du lịch: Tổng lượng khách du lịch năm 2025 đạt 4.440.000 lượt khách, tăng 5,3 % so với cùng kỳ 2024, đạt 100.9 % so với kế hoạch năm 2025.Trong đó: Khách quốc tế đạt 305.000 lượt khách, tăng 114% so với cùng kỳ 2024, đạt 101,6% so với kế hoạch năm 2025; Khách trong nước đạt 4.135.000 lượt khách tăng 1,52% so với cùng kỳ 2024, đạt 100.8% so với kế hoạch năm 2025. Doanh thu ước đạt 4.501 tỷ đồng tăng 3,47% so với cùng kỳ 2024, đạt 100% so với kế hoạch năm 2025.
4. Giáo dục
Toàn tỉnh hiện có 648 đơn vị, trường học, Sở Giáo dục và Đào tạo triển khai kịp thời các văn bản chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo, của tỉnh, văn bản hướng dẫn của ngành tới các đơn vị. Tham gia các kỳ thi cấp quốc gia đạt kết quả tốt như: Kỳ thi học sinh giỏi, Thi khoa học kỹ thuật. Tổ chức thành công các cuộc thi, hội thi cấp tỉnh như: Hội thi giáo viên giỏi các môn khoa học tự nhiên trung học cơ sở; Thi học sinh giỏi cấp tỉnh lớp 9 và 11; tổ chức Đại hội thể dục thể thao cấp tỉnh với 08 môn thi đấu với 44 nội dung, trao 459 huy chương các loại (115 huy chương vàng, 114 huy chương bạc, 230 huy chương đồng); tham gia Giải thể thao học sinh phổ thông toàn quốc đạt 13 huy chương (02 huy chương vàng, 02 huy chương bạc, 09 huy chương đồng).
5. Trật tự - An toàn giao thông6
Tình hình an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội được đảm bảo. Tổ chức thực hiện các đợt cao điểm trấn áp các loại tội phạm, phòng, chống tệ nạn xã hội. Triển khai đồng bộ, quyết liệt các biện pháp phòng ngừa, đấu tranh có hiệu quả với tội phạm. Trong tháng xảy ra 22 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 11 người, bị thương 21 người.
6. Môi trường
Trong tháng không phát sinh vi phạm môi. Năm 2025, trên địa bàn tỉnh đã phát hiện 47 vụ vi phạm môi trường, giảm 71,34% so với cùng kỳ, do thực hiện tốt công tác tuyên truyền, giáo dục ý thức người dân. Trong tổng số vụ vi phạm phát hiện đã xử lý năm 2025 đã xử lý là 25 vụ; số tiền xử phạt là 1,1 tỷ đồng.
7. Thiệt hại do thiên tai
Trong tháng trên địa bàn tỉnh không phát sinh thiệt hại do thiên tai. Năm 2025 trên địa bàn tỉnh xảy ra 06 vụ thiệt hại về thiên tai: 05 vụ do mưa lớn, lũ, ngập lụt, sạt sở, lũ quét; 01 do mưa lốc, giông, sét, mưa đá gây ra. Trong đó, ảnh hưởng lớn nhất là cơn bão số 10, số 11 vào đầu tháng 10 năm 2025 gây thiệt hại về nhà cửa, hoa màu và gia súc, gia cầm.
III. PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ NĂM 2026
Năm 2026 là năm thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng các cấp nhiệm kỳ 2025–2030 và Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm giai đoạn 2026–2030; có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc tạo nền tảng, định hướng và động lực cho phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trong cả nhiệm kỳ. Trong bối cảnh còn nhiều khó khăn, thách thức đan xen với thời cơ, thuận lợi, tỉnh xác định phương hướng chung là tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế; phát triển nhanh và bền vững, gắn với bảo đảm an sinh xã hội và cải thiện đời sống Nhân dân. Trọng tâm thực hiện các nhiệm vụ chủ yếu sau:
Thứ nhất: ứng dụng khoa học - công nghệ vào sản xuất nông, nghiệp. Phát triển nông nghiệp bền vững, thân thiện môi trường. Tăng cường liên kết sản xuất và tiêu thụ. Phát triển hợp tác xã, tổ hợp tác làm cầu nối cho nông dân. Liên kết với doanh nghiệp theo chuỗi giá trị t sản xuất đến tiêu thụ. Xây dựng thươnghiệu, nhãn hiệu cho nông sản địa phương. Hỗ trợ về chính sách và nguồn lực. Mở rộng thị trường tiêu thụ.
Thứ hai: phát triển công nghiệp theo hướng bền vững, nâng cao chất lượng tăng trưởng. Tập trung tháo gỡ khó khăn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh; khuyến khích đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm. Đẩy nhanh tiến độ đầu tư xây dựng và hoàn thiện hạ tầng các khu, cụm công nghiệp; thu hút các dự án công nghiệp có công nghệ tiên tiến, thân thiện môi trường. Phát triển các ngành năng lượng theo quy hoạch, bảo đảm an ninh năng lượng và hiệu quả sử dụng tài nguyên.
Thứ ba: sử dụng hiệu quả các nguồn lực đầu tư phát triển. Ưu tiên đầu tư kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội đồng bộ, hiện đại, nhất là hạ tầng giao thông, đô thị, hạ tầng số và hạ tầng phục vụ phát triển kinh tế cửa khẩu. Nâng cao hiệu quả quản lý đầu tư công; tăng cường kiểm tra, giám sát, xử lý dứt điểm các dự án chậm tiến độ, kém hiệu quả; tạo môi trường thuận lợi thu hút đầu tư ngoài ngân sách.
Thứ tư: phát triển mạnh khu vực thương mại - dịch vụ. Khai thác hiệu quả tiềm năng kinh tế cửa khẩu, logistics; mở rộng thị trường xuất nhập khẩu, thúc đẩy lưu thông hàng hóa. Phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế quan trọng, đa dạng hóa sản phẩm du lịch, nâng cao chất lượng dịch vụ; đẩy mạnh xúc tiến, quảng bá, liên kết phát triển du lịch với các địa phương trong và ngoài tỉnh. Tăng cường kích cầu tiêu dùng, phát triển thị trường nội địa.
Thứ năm: chú trọng phát triển văn hóa – xã hội, bảo đảm an sinh xã hội và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Thực hiện đầy đủ, kịp thời các chính sách an sinh xã hội, giảm nghèo bền vững; nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân. Đẩy mạnh giải quyết việc làm gắn với phát triển thị trường lao động; nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, y tế; phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.
[1] Công văn số 2695/CTK-TKQG ngày 01/12/2025 của Cục Thống kê về việc thông báo số liệu GRDP sơ bộ quý III, 9 tháng và ước tính quý IV, cả năm 2025.
[2] Nguồn: Sở Tài chính.
[3] Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Khu vực 5.
[4] Nguồn: Sở Y tế tỉnh Lạng Sơn.
[5] Nguồn: Sở Văn hóa, thể thao và du lịch.
[6] Nguồn: Công an tỉnh Lạng Sơn.
Tác giả bài viết: Thống kê tỉnh Lạng Sơn
Ý kiến bạn đọc
Những tin cũ hơn