Năm 2025 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là năm cuối thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm (2021 – 2025). Tỉnh triển khai Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2025, trong bối cảnh thế giới, khu vực và trong nước đang đối diện với nhiều khó khăn, diễn biến phức tạp, khó lường, khó dự đoán, chính sách thuế quan giữa Hoa Kỳ và các nước. Trong tỉnh với sự lãnh đạo sát sao của Tỉnh ủy, sự nỗ lực, quyết tâm cao của UBND tỉnh, các cấp, các ngành khắc phục khó khăn, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động sản xuất, kinh doanh, xuất nhập khẩu được thông suốt, góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân, đồng thời tập trung đẩy nhanh tiến độ thực hiện sắp xếp tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế, sắp xếp chính quyền địa phương 2 cấp đi vào hoạt động ổn định; tiếp tục hoàn thiện đồng bộ kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội; tăng cường công tác cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, thu hút đầu tư; đẩy mạnh chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo; phòng chống thiên tai, chỉ đạo ứng phó với cơn bão số 10 (Bualoi) và cơn bão số 11(Matmo); khắc phục hậu quả mưa bão ổn định đời sống người dân, tập trung sản xuất nông, lâm nghiệp theo tiến độ; triển khai các biện pháp phòng, chống dịch bệnh, không để dịch bệnh bùng phát và lan rộng. Tổ chức các Đoàn công tác kiểm tra tiến độ triển khai các công trình, dự án trên địa bàn tỉnh, tổ chức hội nghị đánh giá, đẩy nhanh tiến độ thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; tình hình triển khai các dự án khu, cụm công nghiệp… đẩy nhanh tiến độ thực hiện, khắc phục tình trạng chậm tiến độ, nguy cơ gây thất thoát, lãng phí; đôn đốc đẩy nhanh tiến độ thực hiện, giải ngân vốn đầu tư công.
1. Tổng sản phẩm trên địa bàn theo giá so sánh (GRDP)
Tổng sản phẩm trên địa bàn theo giá so sánh (GRDP) năm 2025 ước đạt 27.547 tỷ đồng, tốc độ tăng tổng sản phẩm trên địa bàn là 8,06%1, trong đó: Nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 5,07%, đóng góp 1,07 điểm phần trăm vào mức tăng chung; công nghiệp - xây dựng tăng 12,75%, đóng góp 3,19 điểm phần trăm vào mức tăng chung; dịch vụ tăng 7,11%, đóng góp 3,51 điểm phần trăm vào mức tăng chung; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 6,46% đóng góp 0,30 điểm phần trăm vào mức tăng chung.

* Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản
Cây hằng năm tiếp tục phát triển theo định hướng đảm bảo lương thực có hạt phục vụ nhu cầu sinh hoạt của người dân trên địa bàn, đồng thời chuyển đổi cơ cấu cây trồng sang các loại cây trồng khác mang lại hiệu quả kinh tế. Sản xuất vụ Đông -Xuân, thời tiết khô hạn kéo dài dẫn đến tình trạng thiếu nước sản xuất; tuy nhiên, các ngành chức năng của địa phương đã chủ động nắm bắt tình hình thời tiết, dự báo khí tượng, thủy văn, thực hiện phân phối nước hợp lý để đảm bảo cung cấp nước tưới từ đầu vụ sản xuất; tổng diện tích gieo trồng cây hằng năm vụ Đông-Xuân năm 2025 thực hiện được 45.770,58 ha, tăng 0,77% tăng chủ yếu ở cây thuốc lá, khoai tây..... Bước sang vụ Mùa, thời tiết đầu vụ cơ bản thuận lợi cho công tác gieo trồng tuy nhiên, cơn bão số 10 (Bualoi) và cơn bão số 11 (Matmo) đã ảnh hưởng một số diện gieo trồng, trong đó ảnh hưởng lớn nhất là cây lúa và ngô, ước tính tổng sản lượng lương thực có hạt ước thực hiện được 308.766,9 tấn, giảm 4,04% với cùng kỳ. Sau ảnh hưởng của bão, chính quyền địa phương đã chỉ đạo, hướng dẫn người dân khẩn trương triển khai các biện khôi phục lại sản xuất, khắc phục thiệt hại do mưa lũ gây ra.
Cây lâu năm duy trì ổn định và tiếp tục phát triển theo hướng sản xuất bền vững với diện tích ước đạt 55.043,53 ha, tăng 2,85% so với cùng kỳ. Một số cây trồng đang được địa phương đầu tư phát triển, có giá trị kinh tế cao như: Cây na là ứng dụng các biện pháp kỹ thuật canh tác, kéo dài thời gian thu hoạch quả sớm hoặc muộn hơn so với chính vụ, nâng cao giá trị sản phẩm, tăng hiệu quả sản xuất. Các sản phẩm quả hồng tươi, hồng treo gió, hồng ngâm… đã trở thành thương hiệu để người trồng hồng vành khuyên có thêm thu nhập, từng bước thoát nghèo, tạo nhiều việc làm cho người dân trên địa bàn; cây hồi ước đạt 36.224,5ha, tăng 3,21% so với cùng kỳ. Sản lượng ước đạt 17.271,82 tấn, tăng 2,99% so với cùng kỳ năm trước.
Hoạt động chăn nuôi ở khu vực hộ dân cư được duy trì. Giá thức ăn chăn nuôi nhìn chung vẫn ổn định, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác tái đàn. Tổng đàn trâu tiếp tục có xu hướng giảm do môi trường chăn, thả bị thu hẹp và nhu cầu dùng trâu để cày kéo giảm. Chăn nuôi gia cầm tiếp tục được quan tâm, đầu tư nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu thụ của thị trường, phục vụ khách du lịch, sinh hoạt gia đình, lễ, tết theo phong tục địa phương. Dịch bệnh diễn biến phức tạp, tuy nhiên chỉ xảy ra tại các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ, không xảy ra tại các cơ sở chăn nuôi lớn. Việc quy hoạch, tập trung phát triển các mô hình, trang trại quy mô nuôi lớn theo hướng an toàn sinh học giúp hạn chế nguy cơ dịch bệnh được tiếp tục được quan tâm.
Hoạt động sản xuất lâm nghiệp tiếp tục phát triển, trên địa bàn tỉnh đã hình thành các vùng sản xuất tập trung một số loài cây chủ lực, cây gỗ lớn như vùng cây thông, vùng trồng keo, bạch đàn, tạo điều kiện thuận lợi hoạt động khai thác, hình thành các cơ sở chế biến sản phẩm từ gỗ ngay tại địa phương. Một số sản phẩm gỗ của tỉnh như: ván ép cao cấp, ván bóc, dăm gỗ; lâm sản ngoài gỗ,... đã được xuất khẩu sang nước ngoài, tạo thị trường đầu ra ổn định giúp cho người dân yên tâm mở rộng sản xuất. Diện tích rừng trồng đang trong giai đoạn chăm sóc ước đạt 58.953ha, tăng 1,73% so với cùng kỳ; sản lượng gỗ khai thác trong năm dự ước tăng 11,12% so với cùng kỳ. Phong trào trồng rừng phát triển mạnh nên nhu cầu về cây giống lâm nghiệp tăng, một số hộ đã phát triển các vườn ươm để cung cấp cho thị trường, đem lại thu nhập cao, dự ước ươm giống cây lâm nghiệp tăng 32,91% so với cùng kỳ.
Hoạt động thuỷ sản tiếp tục duy trì; xây dựng dự án ưu tiên thả cá giống bổ sung nguồn lợi thủy sản vào một số hồ chứa và dự án nuôi cá lồng giống trắm cỏ, chép lai và cá thịt ghép trong ao; tập huấn về kỹ thuật nuôi trồng, chăm sóc, phòng chống dịch bệnh; hỗ trợ cá giống, thức ăn, thuốc phòng bệnh. Tuy nhiên do ảnh hưởng của cơn bão số 10, 11 gây ngập úng, thiệt hại 96 ha diện tích ao hồ nuôi trồng thủy sản, nhưng lại giúp sản lượng thủy sản khai thác tăng. Nhìn chung, sản lượng thủy sản tăng so với cùng kỳ do phát triển mô hình nuôi ốc nhồi mới đem lại hiệu quả kinh tế cao (xã Thiện Tân). Ước tính năm 2025, sản lượng thủy sản ước đạt 2.310,91 tấn, tăng 4,02%.
* Khu vực công nghiệp - xây dựng
- Hoạt động công nghiệp
Sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh cơ bản ổn định, các ngành khai khoáng, công nghiệp chế biến, chế tạo đóng vai trò chủ lực góp phần giữ vững đà tăng trưởng chung của ngành công nghiệp. Mặc dù trong tháng 10/2025 chịu ảnh hưởng cơn bão số 10 và số 11 gây mưa lớn, ngập lụt ảnh hưởng đến một số hoạt động sản xuất như khai thác, chế biến gỗ, phân phối điện nhưng có sự chỉ đạo kịp thời của tỉnh cùng sự chủ động của doanh nghiệp trong ứng phó, khắc phục thiên tai hoạt động sản xuất đã nhanh chóng được khôi phục. Dự ước toàn ngành công nghiệp tốc độ tăng 7,74% so với cùng kỳ.
Ngành khai khoáng tăng 16,63%. Do sản phẩm chủ lực (ngành khai thác than) là sản phẩm nguyên, nhiên liệu quan trọng trong hoạt động sản xuất, phát điện của Công ty Nhiệt điện Na Dương. Với nỗ lực của doanh nghiệp trong việc tháo gỡ khó khăn trong sản xuất và sự vào cuộc của chính quyền các cấp, sản lượng khai thác than đã tăng so với cùng kỳ, cơ bản đáp ứng nguyên liệu cho sản xuất nhiệt điện. Bên cạnh đó các doanh nghiệp triển khai hoạt động khai thác đá, đăng ký ra hạn mức công suất khai thác, do nhu cầu vật liệu xây dựng phục vụ các dự án hạ tầng và dân sinh trên địa bàn tăng.
Công nghiệp chế biến, chế tạo ước tăng 6,32%, trong đó một số ngành có mức tăng khá như: Ngành chế biến gỗ và sản phẩm từ gỗ, tre, nứa tăng trên 11,37% do tỉnh có lợi thế về nguồn nguyên liệu gỗ rừng trồng, cùng với nhu cầu tiêu thụ thị trường nên sản phẩm gỗ tăng ổn định. Hoạt động sản xuất sản phẩm từ cao su, plastic tăng 32,98% do năm 2025 nhiều công trình hạ tầng, khu dân cư, và dự án cấp thoát nước trong tỉnh được triển khai, làm nhu cầu sử dụng ống nhựa tăng cao, công ty TNHH Chi Lê và công ty TNHH Thực Nghiệp Tân Hải Lạng Sơn nhận thêm đơn hàng nên tăng sản lượng sản xuất; Sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 18,57% do trong năm trên địa bàn tỉnh có nhiều công trình nên nhu cầu xi măng cho xây dựng phục vụ các công trình tăng, Công ty Cổ phần Xi măng Đồng Bành đẩy mạnh sản xuất; Sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 21,66% do công ty TNHH Thực Giai Việt Nam và công ty TNHH Tuấn Anh nhận thêm nhiều đơn hàng nên sản xuất tăng cao so quý cùng kỳ. Bên cạn đó một số ngành Công nghiệp chế biến, chế tạo khác đều dự ước mức tăng từ 15-30% so với cùng kỳ, do nhu cầu thị trường tăng, các cơ sở sản xuất, doanh nghiệp nhận thêm đơn hàng và ảnh hưởng sau bão (cơn bão số 10 và số 11) nhu cầu sửa chữa, khôi phục các cơ sở hạ tầng, công trình tăng.
Ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí ước tăng 6,92%, hoạt động sản xuất chủ yếu theo lệnh điều động của Tổng công ty Điện lực miền Bắc. Ngành cung cấp nước, xử lý rác thải, nước thải tăng nhẹ duy trì ổn định phục vụ nhu cầu dân sinh.
- Hoạt động xây dựng
Hoạt động xây dựng dự ước có mức tăng trưởng cao tăng 16,32%, nhờ giải quyết kịp thời các khó khăn, vướng mắc, thủ tục pháp lý, giải phóng mặt bằng, nguồn cung nguyên vật liệu để đẩy nhanh các dự án; môi trường đầu tư, kinh doanh tiếp tục được cải thiện, tập trung chủ yếu ở các dự án, công trình trọng điểm chuyển tiếp từ năm trước sang có tính lan tỏa, tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội như: Dự án cao tốc Đồng Đăng (Lạng Sơn) -Trà Lĩnh (Cao Bằng); Hữu Nghị - Chi Lăng (tỉnh Lạng Sơn), phấn đấu hết năm 2025 thông tuyến đối với dự án cao tốc cửa khẩu Hữu Nghị - Chi Lăng để năm 2026 bắt đầu khai thác ... các dự án trọng điểm thuộc ngân sách nhà nước luôn đảm bảo tiến độ theo kế hoạch từ đó đóng góp và sự tăng trưởng của ngành xây dựng.
Các đơn vị thi công tăng cường quản lý chất lượng công trình, huy động tối đa nhân công, đầu tư thêm thiết bị máy móc,... khắc phục khó khăn do bão gây ra mở thông tuyến để lưu chuyển vật liệu đảm bảo tiến độ thi công của các công trình, dự án, tiếp tục đẩy nhanh tiến độ và giải ngân vốn đầu tư xây dựng cơ bản, trong đó các dự án trọng điểm, các dự án có mức vốn giao kế hoạch lớn. Trong những tháng cuối năm (ngày 9/11/2025) tỉnh Lạng Sơn đã khởi công 4 trường nội trú liên cấp ở các xã Khuất Xá, Kiên Mộc, Mẫu Sơn và Quốc Khánh với tổng mức đầu tư gần 1.200 tỷ đồng cho giai đoạn 1, nhằm mục đích đảm bảo cơ hội học tập cho học sinh vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới.
* Khu vực dịch vụ
Ngành thương mại – dịch vụ tăng lên chủ yếu do đời sống và thu nhập của người dân ngày càng được cải thiện, làm nhu cầu mua sắm và sử dụng dịch vụ tăng mạnh. Bên cạnh đó, du lịch phát triển, giao thông và công nghệ hiện đại giúp việc trao đổi hàng hóa thuận lợi hơn. Tỉnh có nhiều chính sách hỗ trợ doanh nghiệp, cùng với quá trình đô thị hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, đã tạo điều kiện để các hoạt động thương mại – dịch vụ mở rộng nhanh và ngày càng phong phú. Năm 2025 khu vực dịch vụ tăng 7,11%.
Kim ngạch xuất nhập khẩu qua các cửa khẩu duy trì mức cao, lượng phương tiện và hàng hóa giao thương với Trung Quốc tăng mạnh, kéo theo sự phát triển đồng bộ của các ngành dịch vụ logistics, kho bãi, vận tải và dịch vụ hỗ trợ biên mậu.
Hoạt động thương mại diễn ra sôi động, giá cả các mặt hàng cơ bản ổn định, hàng hóa phong phú, đa dạng, bảo đảm phục vụ nhu cầu của người dân, không có hiện tượng thiếu hàng cũng như tăng giá đột biến. Các hoạt động quảng bá, xúc tiến du lịch được đẩy mạnh, các chương trình, hoạt động du lịch, lễ hội được tổ chức với quy mô lớn, số lượng người tham gia các lễ hội truyền thống của tỉnh tăng cao. Dự ước Tổng mức bán lẻ và dịch vụ năm 2025 tăng khoảng 16,25% so với cùng kỳ, trong đó: Tổng mức bán lẻ ước đạt gần 38.262,9 tỷ đồng, tăng 16,81% so với cùng kỳ; dịch vụ ăn uống, lưu trú ước đạt 3.366,5 tỷ đồng, tăng 16,88% so với cùng kỳ.
Hoạt động vận tải hành khách, hàng hóa ổn định, thông suốt, an toàn. Dịch vụ bưu chính, viễn thông tiếp tục được cải thiện, nâng cao về chất lượng. Sự phát triển của hệ thống logistics thông minh, khu trung chuyển hàng hóa, bãi hàng chuyên dụng và mô hình cửa khẩu số giúp tăng mạnh năng lực thông quan, rút ngắn chu kỳ vận tải và giảm ùn tắc tại khu vực Hữu Nghị, Tân Thanh. Do đó hoạt động vận tải, kho bãi và dịch vụ mở tờ khai hải quan diễn ra rất sôi động và mang tính đặc thù. Với lưu lượng xe container, xe tải lớn tăng mạnh vào các giai đoạn cao điểm mùa nông sản và cuối năm; các doanh nghiệp vận tải trong và ngoài tỉnh tham gia ngày càng nhiều, hình thành mạng lưới vận chuyển liên vùng - liên quốc gia. Dịch vụ kho bãi, bốc xếp, lưu giữ hàng hóa phát triển nhanh, tập trung tại khu vực cửa khẩu và các trung tâm logistics, đáp ứng nhu cầu gom hàng, chờ thông quan và trung chuyển. Cùng với đó, dịch vụ mở tờ khai hải quan, giao nhận, ủy thác xuất nhập khẩu với nhiều doanh nghiệp logistics, đại lý hải quan tham gia, giúp doanh nghiệp hoàn thiện thủ tục nhanh hơn, giảm thời gian thông quan và chi phí. Đặc thù kinh tế cửa khẩu đã tạo động lực lớn thúc đẩy các dịch vụ vận tải - kho vận - hải quan phát triển mạnh, đóng vai trò quan trọng trong cơ cấu dịch vụ của tỉnh. Hiệu suất thông quan đạt cao tại các cửa khẩu đường bộ (trung bình từ khoảng 1.600 – 1.800 xe XNK/ngày); trong đó: xuất khẩu khoảng 300 – 350 xe/ngày, nhập khẩu khoảng 1.100 – 1.200 xe/ngày. Tình hình XNK tại cửa khẩu quốc tế Ga đường sắt Đồng Đăng diễn ra ổn định, trung bình đạt 90-100 toa XNK/ngày; trong đó: 20-30 toa xuất khẩu, 70-80 toa nhập khẩu.
* Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm: Năm 2025 tăng 6,46%, công tác quản lý, điều hành ngân sách được quan tâm chỉ đạo đúng quy định, chủ động, linh hoạt, hiệu quả. Các giải pháp thu ngân sách được triển khai đồng bộ, tập trung tăng cường chống thất thu thuế, chống chuyển giá, trốn thuế, tăng cường các biện pháp xử lý nợ thuế, thực hiện quyết liệt công tác chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả, áp dụng hóa đơn điện tử, đẩy mạnh đấu giá quyền sử dụng đất, giao đất thu tiền sử dụng đất đối với các dự án để tạo nguồn lực đầu tư phát triển.
2. Tổng sản phẩm trên địa bàn theo giá hiện hành (GRDP)

Quy mô GRDP theo giá hiện hành ước tính đạt 58.273 tỷ đồng. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng định hướng: nông lâm nghiệp và thủy sản chiếm 20,28%, công nghiệp - xây dựng 28,33%, dịch vụ 47,24%, thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm 4,16%. GRDP bình quân đầu người đạt 7,01 triệu đồng/người.
[1] Công văn số 2695/CTK-TKQG ngày 01/12/2025 của Cục Thống kê về việc thông báo số liệu GRDP sơ bộ quý III, 9 tháng và ước tính quý IV, cả năm 2025.
Tác giả bài viết: Thống kê tỉnh Lạng Sơn
Ý kiến bạn đọc
Những tin mới hơn
Những tin cũ hơn